Hiển thị các bài đăng có nhãn Tùy Bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tùy Bút. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

Tùy Bút: Bỏ thuốc lá vì xấu hổ (Nghê Trường Sinh)

A Vietnamese judge admitted he was "ashamed" of the consequences of his addicitive behavior and was determined to quit smoking more than a decade go. He is now in his 80s, saying he's feeling better and happier. 

Bỏ thuốc lá vì xấu hổ
Nghê Trường Sinh

Vì ghiền thuốc lá tôi đành phải gánh chịu hai lần tủi nhục trong đời.

Lần thứ nhất: tháng 11-1975, tôi nhận chức phó chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau. Sau đó, được phân công đi dự hội nghị tòa án nhân dân tối cao ở Hà Nội, rồi về Thái Bình. Các đồng chí tỉnh ủy, ủy ban, tòa án nhân dân tỉnh tiếp đón nồng hậu, thân tình và mời ở lại một đêm chiêu đãi văn nghệ chèo Quan Âm Thị Kính.

Hơi lạt miệng thèm thuốc, tôi vội móc túi lấy thuốc lá đốt hút trong rạp như ở tỉnh nhà, mắt không rời từng động tác diễn xuất của diễn viên.

Bỗng nhiên trên gác lầu hai có bóng đèn pin rọi thẳng chói lòa vào mặt tôi. Tức giận ngẩng đầu lên định quở trách: "Ai dám vô lễ đến thế đấy?". Chưa kịp mở miệng thì một ông bạn ngồi bên cạnh tôi kề tai nói nhỏ: "Hút thuốc lá nơi công cộng, bảo vệ rọi đèn pin cảnh báo bác đấy". Vỡ lẽ giật mình, luýnh quýnh, tôi giụi lia giụi lịa điếu thuốc, mặt mày sượng ngắt.

Trên sân khấu chèo đến đoạn Thị Mầu ẻo lả gợi tình, lẳng lơ trơ trẽn, khán giả rộ cười biếm nhẽ, còn tôi thì nín thinh, ngỡ ngàng, bẽn lẽn, cay như ăn ớt hiểm.

Lần thứ hai: 22 năm sau (1997) nằm điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất, TP.HCM. Dù bảng cấm hút thuốc treo tại phòng bệnh tôi vẫn lén hút thuốc lá thường xuyên. Một hôm thức giấc nửa đêm, thèm thuốc, tôi rón rén vào nhà vệ sinh khóa cửa lại, đốt một điếu hút ngon lành rồi nhẹ bước về giường ngủ một giấc đến sáng.

Hộ lý vào quét dọn phòng bệnh, mở cửa làm vệ sinh toilet, lật đật lùi ra, cô la lên: "Ai hút thuốc lá trong nhà vệ sinh mà hơi thuốc nực nồng vậy?". Không một ai trả lời, cô tiếp tục giội nước, lau chùi, miệng không ngớt cằn nhằn quở trách.

Phòng bệnh có hai giường, hai bệnh nhân: giường bên cạnh bệnh nhân quê Hà Nội không hút thuốc lá, tôi hút thuốc lá vàng tay. Cảnh ngộ diễn ra khiến tôi hổ thẹn, lấy chăn đắp đầu, không dám lên tiếng nhận tội của mình. Là con nghiện thuốc lá, tôi biết chắc cô hộ lý đang quở trách mình... Nhưng tôi chỉ biết nằm lì, im thin thít, miên man suy nghĩ rồi tự trách mình "không tự trọng", "vô kỷ luật", "đau đớn lắm", "xấu hổ lắm".

Bị thuốc lá quật ngã, tôi suy nghĩ và tự hỏi mình: "Thuốc lá là cái thớ gì mà làm mình thân tàn ma dại, xấu hổ, nhục nhã đắng cay như thế này?".

Tiếp tục đấu tranh nội tâm, củng cố quyết tâm, giảm dần mật độ hút, chờ đến thời cơ ít bữa nữa là 31-5, ngày toàn thế giới không hút thuốc lá, cũng là ngày tuyên thệ với lòng mình, đoạn tuyệt thuốc lá với đời tôi.

Sáng 31-5-1997 tại Bệnh viện Thống Nhất, sau khi ăn sáng tôi lấy một điếu thuốc hút, số còn lại nhét trong cặp, không để trong túi như mọi lần. Tôi tự nhủ: "Thuốc lá còn đó nhưng cấm mày hút nữa. Mày đã thấy tác hại và nhục nhã đối với đời mày rồi. Phải chấm dứt ngay".

Đúng vậy, từ hôm ấy đến nay hơn mười năm trôi qua tôi không bao giờ cầm hoặc hút một hơi thuốc lá.

Cai được thuốc lá hết sức phấn khởi, vừa điều trị, an dưỡng phục hồi chức năng, thể dục dưỡng sinh, ăn ngủ điều độ... các bệnh phát hiện năm 1980 giảm nhiều, có bệnh khỏi hẳn. Tôi tăng 10kg (55 lên 65kg) mập mạp, hồng hào, trí nhớ tương đối tốt, lạc quan yêu đời, dù đã 82 tuổi. Hiện nay chủ yếu còn thiếu máu cơ tim nhưng nhẹ hơn lúc hút thuốc lá.


http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Song-khoe/260047/Bo-thuoc-la-vi-xau-ho.html

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2011

Tùy Bút: Có tội hay không có tội (Le Hoa Wilson)

The author of this essay, Mrs. Le Hoa Wilson, is a Vietnamese Buddhist married to an American Catholic. Despite earlier societal challenges in their interracial relationship, in the end, love always reigns supreme and harmony abounds. In this eloquently told story, she asks, "Both Buddha and Jesus are compassionate and just, do you agree?" Yes, we do. Thank you for sharing your sweet love, Mr. and Mrs. Wilson.

Có tội hay không có tội
Le Hoa Wilson

Tôi thật không biết phải bắt đầu từ đâu để câu chuyện đời lộn xộn của mình có được một chút ngăn nắp để bạn hiểu tôi hơn. Thôi thì bắt đầu vào một ngày nắng đẹp, tôi bước ra khỏi tòa án Saigon với cái giấy ly dị trên tay. Tôi có một trai và một gái và quan tòa đã rộng lượng xử cho tôi được trọn quyền giữ cả hai với điều kiện là không nhận được chu cấp từ người chồng. Tôi hoan hô quan tòa cả hai tay. Đó là năm 1969.

Bà chị tôi có hãng thầu cung cấp dịch vụ hớt tóc, giặt quần áo, bán hàng kỷ niệm cho quân nhân Mỹ tại Việt Nam và hàng ngàn xe đá để hãng RMK làm phi trường. Đó là một công cuộc làm ăn lớn lao có tới vài trăm nhân viên nên chị nhận cho tôi theo làm để nuôi con. Do đó tôi gặp Ron, người chồng hiện tại.

Bạn ơi, không biết tôi đã tốn bao nhiêu nước mắt cho cuộc hôn nhân nầy. Không biết tôi đã nhận được bao nhiêu lời sỉ nhục khi đi sánh đôi với người chồng Mỹ tại Việt Nam. Nếu phải đếm hết những danh từ thô bỉ, những ánh mắt chê bai, những đối xử khinh bạc của bạn bè, của những người quen biết cho đến những kẻ qua đường vì tôi "lấy Mỹ" thì chắc tôi phải biến thành con rết khổng lồ với cả ngàn chân tay mới đếm hết nổi. Thôi thì chẳng qua là cái nghiệp. Chắc mình đã dè bỉu, chê bai bao nhiêu là người ở những kiếp trước nên kiếp nầy nhận lại "gậy ông đập lưng ông" thôi mà.

Mỗi lần bị "tai nạn" như vậy, tôi giã vờ phớt tỉnh. Những dòng nước mắt tủi hổ cứ chực tràn ra. Ông xã cứ hỏi là "họ nói gì vậy?", tôi thì cứ "ai biết đâu, họ dùng danh từ em không hiểu!". Nhưng ông xã thì biết vì anh có rất nhiều nhân viên Việt Nam làm việc cho anh và chắc họ đã giải nghĩa cho anh hiểu địa vị của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội khi họ vô phước kết hôn với người Mỹ.

Sau khi anh hiểu được, tôi không bao giờ quên được ánh mắt của anh nhìn tôi trong những lần "tai nạn" đó. Đôi mắt anh chứa đầy những biết ơn, những chia sẻ, những đau thương, những căm giận, những cảm thông... Anh cầm tay tôi nói: "Thật là không công bình cho em. Anh rất biết ơn em. Sự chịu đựng những nỗi nhục nhằn của em làm tan nát tim anh. Anh cảm thấy không xứng đáng với sự hy sinh của em." Tôi chỉ nói nhỏ: "Cả hai, em và họ đều là nạn nhân, mỗi người mỗi cách. Có phải chúng ta đã hứa là sẽ cùng chung chịu những niềm vui và nỗi khổ trên đời không? Vậy đó không phải là sự hy sinh. Đó chỉ là sự chia sẻ."

Và tôi đã sát cánh cùng anh nổi, chìm trong cõi ta bà, trong nụ cười khi gia đình xum hợp, trong nước mắt khi một đứa con sớm vội ra đi, trong thành công, trong thất bại suốt bốn chục năm qua.

Rồi trời đất nổi cơn gió bụi. Năm 1975 tôi dắt díu các con về Mỹ sống tại California. Bà mẹ chồng ở tận Boston qua CA thăm cháu nội và dâu lần đầu tiên.

Mẹ ruột kẹt lại quê nhà, mẹ chồng ở kề cận, thôi thì hãy vui với hiện tại và những gì mình có. Gạo trồng ở Việt Nam hay trồng ở Mỹ thì cũng nấu thành cơm. Mẹ ruột hay mẹ chồng thì người đàn bà đó cũng đã thương yêu và dưỡng nuôi người mình yêu dấu. Bà hỏi chớ các cháu đã được rửa tội chưa? Tôi nói ngắn gọn "Dạ chưa. Con đạo Phật." Bà mỉm cười không nói gì và không bao giờ nhắc lại.

Hình như người Mỹ có tâm hồn rộng rãi hơn. Bà thường hay lục lọi và gởi về cho cháu nội những quyển Thánh kinh rất cũ của gia đình. Tôi nhận và trân trọng giao lại cho các con. Mẹ chồng gần với con dâu hơn người con ruột.

Thời gian qua, một hôm thằng con cả báo cho mẹ biết là nó muốn cưới vợ. Mình đã già rồi mà không hay bạn ơi. Khi nghe con trình bày mọi điều, bà chị la làng chói lói. Trời ơi, nó là con trai lớn nhứt mà theo đạo Chúa thì lấy ai mà thờ phượng em? Bạn ơi, bạn nghĩ sao? To be or not to be? Nói Yes, con cứ tiếp tục lo hôn lễ hay nói No, No Way.

Hừm, thờ phượng là nó sẽ nhớ tới ngày mình theo Phật, mua một mâm đủ cả heo quay, gà vịt, có cả bia rượu, bưng lên bàn thờ để một tiếng đồng hồ rồi dọn xuống mời bạn nhậu? Hay là nó cúng mâm chay nhưng lại không ăn? Hay là nó tới chùa nhờ thầy đọc một thời kinh? Thầy lo đọc, nó lo nhớ tới cái đầu gối hơi đau vì quì lâu! Hay nó dọn một cái bàn thờ trong nhà, chưng cái hình mình lên. Có ai đó hỏi con nó chớ hình của ai vậy thì thằng cháu nội nhìn hình và nói "I don't know"!

Chỉ còn cách hỏi nó.

Cô đó hiền không? Dạ hiền. Cô đó giỏi không? Dạ giỏi. Cô đó thích săn sóc con cái, nhà cửa không? Dạ thích. Cô đó thương con không? Dạ thương. Vậy thì yes, con ơi, yes. Mẹ chỉ cần thấy con được hạnh phúc, an vui. Mẹ tin vào sự khôn ngoan và lựa chọn của con (cho con học bao lâu chắc con không ngu đâu, phải không).

Vợ chồng con thương yêu nhau và tử tế với mẹ khi mẹ còn sống là con đã "thờ phượng" mẹ rồi. Trong con đã có dòng máu của mẹ. Con làm một người chồng tốt, một người cha tốt, một con người tốt là con thờ phượng mẹ đó, phải không? Bạn ơi, bạn có thấy tôi quá "văn minh" không? Quá... quá... tiếng gì hả mà người Mỹ thường hay chỉ mấy ông nghị viên trong đảng dân chủ đó? À à, quá "liberal" không?

Vậy là tôi có hai thằng con theo đạo Chúa của vợ và năm đứa cháu nội biết Phật là Budha chớ chẳng biết Nam Mô. Quên cho bạn hay là tôi đã không rửa tội hoặc bắt các con theo đạo nào hết. Tôi để cho chúng tự do chọn lựa khi chúng đến tuổi trưởng thành (hoặc "được" vợ dẫn dắt). Tuy nhiên tôi cũng thường đem các con đi chùa khi chúng còn nhỏ và mỗi khi tết tôi đều dạy chúng lạy bàn thờ Phật và bàn thờ tổ tiên. Cho đến bây giờ vẫn vậy. Phải lạy bàn thờ. Đó là điều kiện duy nhứt tôi đòi hỏi gia đình các sui gia trong ngày cưới, dù họ là đạo nào. Tôi kính trọng tất cả các đấng dẫn dắt linh hồn.

Mỗi khi gia đình tụ họp tại nhà thằng con cả, nhằm ngày ăn chay, tôi luôn có ít nhứt một món chay rất ngon do con dâu Công giáo nấu. Tôi biết ơn chúa Jesus quá đỗi vì con dân của Ngài quả là một người đầu bếp giỏi và là một đứa con dâu rất hiếu thảo.

Thế là tôi trở thành minority, có nghĩa là thiểu số trong gia đình tôi. Ông xã, hai thằng con, hai cô dâu, năm đứa cháu nội, tất cả là mười người con Chúa. Một đứa con gái và chồng cùng ba đứa con tin tưởng cả Phật lẫn Chúa. Ngày lễ Giáng Sinh và cuối tuần thằng cháu ngoại mười hai tuổi đi đờn violon trong nhà thờ. Khi về nhà ngoại thì vô lạy Phật và... ngồi thiền!

Thằng con út thì, bạn có thể gọi nó là người vô tôn giáo, khuyên các cháu không nên mỗi chút mỗi đổ thừa cho Chúa và khi xin tội thì phải nhớ chừa cái tội đó đừng lặp lại và nhận xét rằng thuyết nhân quả của nhà Phật rất hay nhưng đôi khi Phật tử lạm dụng thuyết nhân quả để chê đè người khác và vì thế làm cho người ta đau khổ. Bạn thấy nó đúng không? Nó mới hai mươi bảy tuổi và đôi khi nó nói chuyện đạo Phật làm tôi cũng ngẩn ngơ. Nó nghiên cứu đạo Phật bằng tiếng Mỹ. Tôi học Phật bằng tiếng Việt. Không biết có khác nhau nhiều không?

Nói cho bạn mừng dùm là dù thiểu số nhưng đạo Phật trong nhà tôi vẫn thịnh vượng. Tôi chưng bày tượng Phật tùm lum, trong vườn hoa đằng trước, trong sân đằng trước, trong vườn hoa đằng sau, trong sân đằng sau, ngay giữa vườn, trong luống hoa, giữa bụi lan... Bàn thờ Phật ở phòng khách, bàn thờ Phật trong phòng thờ, tượng Phật trên đàn dương cầm, tượng Phật trên đầu ti vi. Đây cũng là một tội ăn hiếp người (chồng) quá đáng, chắc kiếp sau lại phải trả thôi.

Rồi cách đây hai tháng, khi anh và tôi cùng ở tuổi bẩy mươi, phải bạn ơi cái tuổi “thất thập cổ lai hi” đó, thì có một người quen từ Việt Nam qua chơi. Người nầy đã đi tu Chúa khi còn con gái mười bẩy tuổi và hiện nay năm mươi bẩy tuổi và đã được lên chức Mẹ Bề Trên. Trong khi trò chuyện, Sơ (xin tạm gọi như thế cho gọn) khám phá ra là chồng thì đạo Chúa chánh gốc (quên nói cho bạn biết là mẹ chồng mình gốc gác người Ý), đã được rửa tội, đã hưởng hết các phép ban ơn v.v... mà lại đi cưới một người vợ ngoại đạo, lại còn không bắt vợ theo đạo của mình. Thế thì khi chết sẽ không được vào nước Thiên Đàng, sẽ không được Chúa tha thứ, sẽ xuống địa ngục v.v... Và Sơ chỉ cho tôi nên đi kiếm Cha để xin Cha làm phép, xin Chúa tha tội cho ông xã để ông xã được trở về với Chúa.

Tôi hoảng hồn nghĩ mình thật là tội lỗi, bấy lâu nay chỉ lo cho linh hồn của mình, còn người bạn đời thì mình lại thờ ơ, may mà có Sơ nhắc nhở. Tôi bèn dịch lại những lời Sơ nói. Ông xã vẫn làm thinh (lại cho bạn biết anh là người ít nói nhứt thế gian, bạn có biết tại sao không? Vì chị vợ đã nói hết thời gian rồi, anh chồng làm gì còn chỗ và thời gian để nói nữa, đã cưới nhau bốn mươi năm rồi, phải quen tánh quen nết chớ, phải không bạn?). À hình như anh có lầm thầm cái gì là anh chưa từng bao giờ bỏ Chúa thì tại sao phải trở lại? Tôi thì sợ hãi nên thúc giục anh mau đến tìm Cha.

Bạn có thấu hiểu được nỗi đau lòng của tôi không? Chắc là không. Vì để hiểu được bạn phải ở trong hoàn cảnh nầy và tôi thì không muốn cho bất cứ ai vướng vào cái vòng tục lụy nầy hết. Giống như cái ông gì đó (trí óc tôi lúc nầy chậm chạp quá, đã quên béng tên ổng) đang làm quan lớn với đầy đủ vợ đẹp, con khôn, quyền cao, chức trọng thì bỗng giựt mình tỉnh giấc nam kha thấy mình vẫn đang ngồi dưới đất, vợ con không, lầu đài không, tiền bạc không, quan chức không.

Giống như bạn, tôi đã "cho anh cả cuộc đời", những tưởng mình đã cùng ai chung chịu nhục nhằn, hạnh phúc, đã cùng ai nở nụ cười, lau nước mắt, đã cùng ai ngẩng mặt, cúi đầu... Ngờ đâu bừng con mắt dậy thấy mình tay không! Mình đã đẩy người ta xuống địa ngục, mình là nguyên nhân để người ta xuống địa ngục. Bạn khuyên tôi phải làm sao? Người ta xuống địa ngục chưa thì tôi không biết, mà tôi thì đã ở trong đó rồi. Lòng tôi tan nát, bạn ơi. Tôi phải đọc tụng kinh gì hả bạn? Lương Hoàng Sám? Thủy Sám? Mà tụng thì ăn thua gì! Nếu tụng mà hết được tội đẩy người xuống địa ngục thì tôi nguyện đọc mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, từ đây cho đến hết cuộc đời.

Ngày hôm sau khi ngồi ăn cơm, dưới cái diã, tôi thấy một cái bao thơ, giống như cái card chúc tết hay chúc sinh nhựt vậy. Tôi ngạc nhiên vì không phải tết, cũng chẳng là sinh nhựt. Anh chẳng nói gì. Tôi mở card ra đọc những dòng chữ có thể dịch ra Việt ngữ như sau:

"Nếu phải xuống địa ngục và vĩnh viễn bị cấm cửa Thiên Đàng thì anh sẵn sàng và hạnh phúc chấp nhận. Ngày em nhận lời làm vợ anh là ngày Chúa đã ban ơn phước cho anh và chấp nhận anh vào cõi Thiên Đàng và anh đã ở Thiên Đàng từ dạo đó, nay sao lại còn phải xin xỏ để trở vào? Anh không ăn năn. Anh không ân hận. Anh không van xin. Anh chắc rằng Sơ đã không nhìn thấy những giọt nước mắt của em đã đổ ra cho anh, vì anh, vì hạnh phúc của anh, vì tội lỗi của anh. Nếu thấy thì anh lại tin chắc rằng Sơ sẽ bảo anh : “Con hãy cám ơn Chúa đã cho con gặp người vợ ngoại đạo nầy”. Em hãy yên lòng, đừng thúc giục anh tìm Cha. Chúa rất nhân từ và thông cảm. Anh đang ở Thiên Đàng."

Đọc xong, tôi ngẩng lên nhìn anh. Tôi lại để cho nước mắt chảy ra thấm ướt tờ thư. Đã lâu rồi tôi không khóc. Lần nầy tôi không cố ngăn lại. Khóc được cứ khóc bạn ơi. Chỉ sợ rằng mình không khóc được và không được khóc!

Bạn có thấy dị không khi một bà già bẩy mươi tuổi còn khóc được vì một lá thư... (có thể gọi là thư tình không bạn?). Không, đây không phải là thư Tình! Đây là thư Nghĩa! Tình yêu sôi nổi với dục vọng, với ghen tương, với giận hờn đã qua lâu rồi. Đây là sự thương yêu, nâng đỡ, dắt dìu nhau của hai con người đang đi vào đoạn cuối của cuộc đời mà không lãng quên những hứa hẹn ở buổi ban đầu. Đây là Nghĩa Vợ Chồng. Dù cho bạn có thành hôn với người Việt Nam, người Mỹ, người Trung Quốc, người Đại Hàn, người Pháp, người da đen, da trắng, da màu... thì nó vẫn tồn tại và rực rỡ trong tâm bạn.

Tôi hy vọng mãnh liệt rằng Chúa sẽ không bắt tội anh vì tôi tin rằng anh đã sống giống như ý Chúa: Thương Yêu, Trung Thành và Nhân Ái.

Đây là một phần câu chuyện đời lộn xộn của tôi và tôi xin chia sẻ cùng bạn với tất cả trái tim tôi. Có tội hay không có tội? Anh đã đi trật đường của Chúa dạy? Anh đang từ bỏ Thiên Đàng và trên đường xuống địa ngục? Anh thật không biết. Tôi là tên ác quỷ đang đẩy người vào chốn tối tăm? Tôi thật không biết. Chúng tôi chỉ biết cầu xin Chúa và Phật cho chúng tôi được có mặt bên nhau những khi hoạn nạn, được giúp đỡ nhau những lúc vấp ngã, được nấu cho nhau chén cháo trong lúc ốm đau, được nắm tay nhau mỉm cười khi mở cửa nhà đón đàn con cháu.

Bạn ơi, tôi không cần phải có bàn thờ và anh thì không cần phải kiếm Cha để rửa tội. Tôi vẫn là một Phật tử thuần thành và anh vẫn làm dấu thánh giá. Chúng tôi không quá "liberal" phải không bạn? Thiên Đàng và Niết Bàn của chúng tôi có nghĩa là "in the here, in the now" như Sư Ông Nhất Hạnh vẫn nói. Không biết chúng tôi có hiểu đúng ý của Sư Ông không?

Hai chúng tôi Tội Lỗi và Hạnh Phúc ngang nhau. Cả Phật, cả Chúa đều rất Bác Ái và Công Bằng, Bạn đồng ý không?


http://phusaonline.free.fr/XaHoi/2010/39_co-toi-hay-khong.htm

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Tùy Bút: Đi cũng là về! (Đỗ Hồng Ngọc)

Dr. Đỗ Hồng Ngọc wrote about his good friend songwriter Trịnh Công Sơn, posthumous recipient of the 2004 World Peace Music Award. Mr. Trịnh Công Sơn, who composed hundreds of memorable songs for love and peace, passed away ten years ago on April 1. His music continues to be adored and performed by countless artists, including American musicians who learned Vietnamese to translate and sing his oft philosophical ballads.

Đỗ Hồng Ngọc

Có người hỏi tôi có phải Trịnh Công Sơn là một thiền sư không mà sao cứ thấy tôi nhắc và trích dẫn ca từ của anh trong các bài viết về Thiền, về Phật pháp của tôi?

Với tôi, Trịnh Công Sơn không chỉ là một “Thiền sư” mà anh còn là một vị “Bồ tát”. Dĩ nhiên “Bồ tát” trong cái nhìn của tôi thôi, bởi vì, anh đã mang đến cho tôi- và có thể cho nhiều người khác nữa- biết bao niềm phúc lạc, bình an, cũng như biết bao nỗi xót xa, khắc khoải… tùy theo lứa tuổi của mình như một thứ “vô lượng nghĩa” kinh…


Mãi đến vài năm sau khi anh mất, tôi mới viết được một bài thơ nhỏ về anh: “Kẻ rong chơi”. Phải, theo tôi, anh là một kẻ rong chơi. Một vị “Bồ tát” hẳn nhiên là phải rong chơi trong cõi Ta bà thôi, với cái tâm không phân biệt, không chấp trước. Rong chơi thôi đã là quá đủ. Và không dễ. Bởi khi ta mất đi sự rong chơi, tức khắc ta rơi vào những “điên đảo mộng tưởng”…
Khi có cái tâm Bồ tát, người ta “thị hiện” ở cõi người như một cuộc “du ư ta bà thế giới”, để chia sẻ những niềm vui và cả những nỗi đau để rồi một hôm “ta lắng nghe ta”
thì chợt nhận ra một nỗi niềm “từ bi bất ngờ” ập đến, từ đó biết ra “một cõi đi về” thênh thang!

Khi viết “Gió heo may đã về” tôi nhìn Trịnh Công Sơn khác với khi tôi viết “ Nghĩ từ trái tim”. Ở Gió heo may đã về, Trịnh Công Sơn là của “cát bụi mệt nhoài”, còn ở Nghĩ từ trái tim, Trịnh Công Sơn là của “ta là ai mà còn trần gian thế”? Một câu hỏi như vậy mỗi chúng ta chẳng đã từng khắc khoải tự hỏi với chính mình đó sao?


Câu trả lời có đó rồi: “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt/ rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. Đi cũng là về. Về cũng là đi. Nó không từ đâu đến, cũng chẳng về đâu (Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ). Chính là cái mà Bùi Giáng vẫn thường hay nói “Hà dĩ cố? Chơi thôi mà!”. Đôi vầng nhật nguyệt ấy là “minh”. Một thứ ánh sáng vẫn soi suốt dặm trường. Ta là ai mà còn trần gian thế? Ta là ai mà yêu quá đời này? Sao không qua bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) đi, sao không “thị hiện”… niết bàn đi, mà cứ phải loanh quanh cho đời mỏi mệt?

Tôi quen Trịnh Công Sơn từ cái đêm anh ôm đàn hát một mình dưới mái hiên tôn một tối ở sân trường đại học văn khoa Saigon thưở đó. Một người gìa trong công viên/ một người điên trong thành phố/ một người nằm không hơi thở/ một người ngồi nghe bom nổ… Anh nói tiếng nói của chúng tôi. Tôi nghe mình buốt lạnh: Vết lăn vết lăn trầm… Bài ca dao trên cồn đá; ôi quê nhà một thời… / đại bác đêm đêm dội về thành phố, em bé co ra, từng hạt cơm khô, em bé lỏa lồ, khóc tuổi thơ đi…
Lứa chúng tôi, nói như bạn tôi, Lữ Kiều không chọn lịch sử mà lịch sử chọn mình. Anh biết tôi với tên Đỗ Nghê, những bài thơ gần gũi trên Bách Khoa, Tình Thương… Anh thường gởi tôi những em bé với đôi dòng nguệch ngoặc: Gửi Đỗ Nghê… chăm sóc giùm…

Mỗi lần tôi ghé nhà thăm anh thường kêu to: “Lấy cho cậu Ngọc một ly nước lọc”! Anh biết tôi không rượu, không thuóc lá. Và không ép. Những khi đông vui, ly này ly khác, thuốc lá chuyền tay, anh vẫn gọi người nhà: Lấy cho cậu Ngọc một ly nước lọc!

Khi tôi in tập thơ Giữa hoàng hôn xưa, thì bìa là của Trịnh Công Sơn với một bức vẽ thiệt ngộ dành riêng cho bài “Thư cho bé sơ sinh”… Khi viết Gió heo may đã về, tôi dùng những ca từ của anh để đặt các tiểu tựa, Trịnh Công Sơn bèn “viết thêm” mấy dòng ở lời Bạt. Anh nói: Moi sẽ nói ngược lại ý toi cho vui nhé. Toi nói “có già”, moi sẽ nói không có già nhé! Và rồi, anh viết “Không có già, không có trẻ. Nói với một người trẻ tôi già rồi em ạ là một điểu vô lễ”.


Đỗ Trung Quân nhận ra ngay vụ “cãi vả” này và bảo sao cho đến cùng, bác sĩ nói có, nhạc sĩ bảo không… trong một bài viết trên Tuổi Trẻ: Như sông vào biển.

Năm 1997, nghe Trịnh Công Sơn bệnh nặng, đang nằm ở khoa Săn sóc đặc biệt bệnh viện Chợ Rẫy. Tôi đến thăm. Cả nhà đang bứt rứt lo lắng đi qua đi lại trước cửa phòng, vì không ai được vào. Tôi trong nghề nên được các đồng nghiệp cho vào thăm sau khi đã khoác thêm blouse trắng, đổi giày… đâu đó chỉnh tề. Ôi Trịnh Công Sơn đó ư? Một cái xác ve xẹp lép, nhẹ tênh trên tấm drap trắng với nồng nặc mùi nhà thương và bao bệnh nhân hấp hối xung quanh. Ôi, biết bao ca khúc say đắm thẩn thờ là từ cái xác ve xẹp lép nhẹ tênh này đó sao? Có cái gì đó đã bay lên làm nên một Trịnh Công Sơn từ trong tứ đại ngũ uẩn này đó vậy? Có cái gì đó “mặc khải” chăng? Có cái gì đó “thị hiện” chăng? Đã mượn anh để trình hiện như hoa sen trong đầm lầy, như quỳnh hương thoáng sát na?


Tôi lay nhẹ. Anh mở mắt. Nhìn chầm chậm rồi lóe sáng “Toi mới về đó hả?” Thì ra anh vẫn tỉnh, vẫn nhận ra tôi, còn biết tôi vừa mới về sau chuyến tu nghiệp ngắn ở Paris. Tôi mừng quá. Một cô y tá đến chích thuốc. Tôi hỏi cô có biết ai đây không? Cô lắc đầu. Trịnh Công Sơn đó. Cô hơi ngớ ra. Tôi nói thêm: nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đó. Cô có vẻ kinh ngạc. Hình như cô kêu lên, không ra tiếng: Trịnh Công Sơn đây sao? Trịnh Công Sơn đây sao?


Tôi thăm khám qua và bảo không sao đâu. Gan thôi. Gan anh thòng xuống đến 7cm dưới bờ sườn phải. Thực ra bệnh anh nặng hơn nhiều với nào tiểu đường, nào khớp, nào phổi, nào thận…(Trước đó tôi đã được tham khảo bệnh án). Mấy ngày sau, anh được chuyển lên phòng riêng ở tầng thứ 11. Lần này tôi đến đã thấy anh thảnh mảnh.

Khi anh được về nhà, thỉnh thoảng tôi lại ghé thăm. Lấy cho cậu Ngọc ly nước lọc nè! Anh lại kêu. Anh khoe mấy bức tranh mới, nêu những ý tưởng mới… “Moi quyết định bỏ rượu và bỏ thuốc lá rồi. Mỗi sáng đi bộ được một quãng…”. Anh nói. Tôi cười cười. Lần sau đến, anh nói: Moi quyết định bỏ thuốc lá thôi. Thuốc lá mỗi người một gu, nhưng rượu thì mọi người đều có thể uống chung với nhau được. Bạn đến đông vui không thể không uống chút rượu. Anh giải thích. Tôi vẫn mỉm cười. Anh có lý. “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”? Vấn đề là chất lượng cuộc sống chứ!

Rồi đùng cái tôi bị tai biến mạch máu não phải mổ cấp cứu. Những người bạn đến thăm lần này lại có Trịnh Công Sơn. Anh đi cùng Lữ Quỳnh. Trịnh Công Sơn ôm theo một bó hồng vàng. Lúc nào anh cũng tươm tất như vậy. Tôi khoe anh mấy bức ký họa trên giường bệnh của mình. Cái đầu trọc lóc bình vôi. Anh có vẻ khoái lắm. Hình như anh cũng đang tủm tỉm cười: Đó, thấy chưa? Toi không rượu không thuốc lá!

Rồi một hôm, Lữ Kiều phone báo tôi Trịnh Công Sơn đi rồi.
Đi vào ngày 1.4, ngày của Cá.
Đi, cũng có nghĩa là về vậy./.


http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/di-cung-la-ve/

Tùy Bút: Huế chay (Cao Huy Hóa)

A vegan diet has often been associated with purity, and Huế, the ancient royal capital of Việt Nam, has plenty of that, plus a deep-rooted tradition of veganism.

Tác giả: Cao Huy Hóa

**Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn luôn trung thành với giọng Huế, và chính ca sĩ Khánh Ly xác nhận, trong thời gian chàng thanh niên họ Trịnh ở Đà Lạt: “Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay”.**

Từ ngày đất nước thống nhất, tôi đã đi nhiều miền của đất nước, được thưởng ngoạn nhiều thắng cảnh, sinh hoạt phong phú, được thưởng thức nhiều món ăn… lại còn thích thú nghe được giọng nói của các vùng, các địa phương. Đây cũng là một khám phá nếu mình đi tàu Thống Nhất, dịp con tàu mới nối chiều dài Bắc Nam, những giọng nói khác nhau trên mỗi chặng hành trình, từ khách đi tàu, từ những người buôn bán, từ những tiếng rao hàng.

Giọng nói gắn với con người và được sử dụng tự nhiên như là hơi thở, bình thường ít mấy ai quan tâm, nhưng khi đi xa lâu ngày thì nó trở thành nỗi nhớ nhung chi lạ. Thời còn trẻ, tôi đã xa Huế. Một lần bất chợt nghe radio: “Đây là đài phát thanh Huế…” từ giọng nói của cô xướng ngôn viên giọng Huế, tôi ngẩn ngơ nhớ xứ Huế quê mình, mà thật lạ, bình thường ở Huế thì tôi không để ý, nhưng lần đó nghe giọng nói răng mà trong trẻo, dễ thương, nhẹ nhàng như vậy.

Đi xa, càng xa Huế mà bắt gặp giọng Huế thì như gặp được bạn cố tri. Đến Phú Quốc theo một tour du lịch, trong tâm trạng háo hức thưởng ngoạn hòn đảo tận phía Nam đất nước, được trò chuyện với người địa phương nói giọng miền Nam truyền thống của những người khai phá, chợt lắng lòng bâng khuâng khi anh hướng dẫn viên du lịch, vốn hoạt náo với khách, đến tâm tình với mình về gốc gác Huế bằng giọng Huế như mình.

Hay một lần đến chợ Đà Lạt, đang sử dụng tập tểnh một thứ giọng miền Nam trao đổi với người bán thì được “đáp lễ” bằng một giọng Huế chính hiệu, tôi cảm thấy vừa “quê” vừa vui, nhưng đúng là vui cùng quê vì tôi và người bán hàng cùng tâm đắc quê Huế.

Giọng Huế gắn liền với một kho tàng ngôn từ dân gian Huế được truyền khẩu qua bao thế hệ, như hình với bóng. Giọng Huế là đặc trưng của văn hóa Huế, con người Huế. Đó là nền tảng của loại hình nghệ thuật: hò Huế, ca Huế, ngâm thơ Huế, hát bội Huế. Người nghe biết cảm nhận: Cái gì ra cái đó, không thể giọng nào khác mà ca Nam Ai, Nam Bình, cũng như không thể giọng Bắc mà ca ngọt cải lương…

Ngay trong ca khúc hiện đại, giọng Huế vẫn có nét riêng: nữ ca sĩ Hà Thanh sáng giá một thời nhờ giọng Huế trong trẻo, truyền cảm; nữ ca sĩ Vân Khánh vẫn thu được cảm tình của đông đảo quần chúng khắp mọi miền nhờ giọng Huế ngọt ngào, dễ thương. Về nhạc điệu trong giọng Huế thì tôi không để ý, nhưng nữ ca sĩ Khánh Ly – gốc Bắc – nhận xét: “Con gái Huế nói như hát …”[1]. Đúng là giọng Huế có gì đặc sắc nên nghi thức tán tụng kinh Phật theo giọng Huế có sức cuốn hút người dự trở về tâm thanh tịnh, xa rời phiền não.

Giọng Huế theo người con gái đi về nhà chồng nơi xa, như là của hồi môn văn hóa phi vật thể. Cũng như thế, những người con Huế, đi định cư ở những phương trời xa lạ hàng mấy chục năm, khi trở về sau ngày đất nước thống nhất, sau khi tay bắt mặt mừng, được bà con khen: “Giỏi hí! Răng mi xa Huế lâu mà vẫn nói giọng Huế ngon lành rứa?”.

Giọng Huế là một đặc sản của ngành du lịch Huế. Du khách đến Huế rất thích thú nếu tiếp xúc với nhiều người nói giọng Huế, từ hướng dẫn viên du lịch niềm nở đến cô tiếp tân khách sạn ân cần, cô nghệ nhân ca Huế ngọt ngào đến các chị bán hàng khéo chào mời ở chợ Đông Ba… Cái đọng lại sau chuyến đi thăm Huế thế nào cũng có dư âm giọng Huế.

Việc giữ giọng nói địa phương là một việc tự nhiên, phần lớn từ cha sinh mẹ đẻ, hoặc từ vùng đất mà mình sinh ra, trưởng thành và học tập, làm ăn sinh sống. Việc chuyển đổi giọng nói hoặc luân chuyển sử dụng giọng nói do nhu cầu giao thiệp, sinh sống là một việc bình thường. Nhiều ca sĩ người Huế nổi tiếng toàn quốc, chỉ sử dụng giọng Huế của mình khi về quê hương, còn thì trên sân khấu ca nhạc giao lưu với khán giả mọi miền vẫn ngon lành giọng Bắc.

Nhưng nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn lại khác: luôn luôn trung thành với giọng Huế, và chính ca sĩ Khánh Ly xác nhận, trong thời gian chàng thanh niên họ Trịnh ở Đà Lạt: “Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay”"[2].

“Chay” là gì? Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học năm 2006 ghi những nghĩa như mọi người hiểu của “chay”, “ăn chay”, “cơm chay”, “bánh chưng chay”, “lập đàn làm chay”, “chay tịnh”, và thêm nghĩa: “Không có cái bổ trợ để làm cho tốt hơn”, dẫn chứng “thửa ruộng cấy chay” (không bón phân) – những từ này miền Nam không phổ biến -, “dạy chay” (không có đồ dùng giảng dạy, thí nghiệm minh họa) – hai từ này quen thuộc quá đối với thầy cô giáo, phổ biến toàn quốc từ năm 1975 -; ngoài ra, không có từ “chay” theo ý nghĩa của tiếng hoặc giọng nói.

Thế nào là “Huế chay”? Đó là giọng nói Huế thuần túy, không pha giọng khác, của người sinh ra, lớn lên và sống tại Huế. Xin trích một đoạn văn tôi đọc tình cờ trên mạng của một chàng già đời, lãng tử để gọi là cho vui: “Tui là dân Huế chay, tức là Huế 100%, Huế từ trong ra ngoài, Huế đến nổi ra Bắc vào Nam, lên vùng cao nguyên tắm đủ sông hồ ao lạch mà cũng không gột rửa chất Huế trong người”.

Nhưng vì sao chỉ nghe nói đến Huế chay mà không nghe Hà Nội chay, Sài Gòn chay, Bình Định chay? Người Bắc xác nhận có giọng Hà Nội thuần túy, nhưng không ai gọi Hà Nội chay mà chỉ gọi Hà Nội gốc. Phải chăng từ “chay” trong Huế chay là từ đặc biệt của Huế, phổ biến cách đây không lâu (nhưng chắc chắn là trước thời kỳ mà người ta dùng những từ như: chay, mặn, của chùa theo ý khác, có tính cười cợt, châm biếm?). Từ “chay” này có liên hệ gì với chuyện chay, mặn trong ăn uống? Chắc không ai nghĩ thế, nhưng có thể nào “chay” trong giọng nói và “chay” trong ăn chay có một liên kết? Phải chăng cả hai cùng thể hiện mặt sinh hoạt trong con người Huế bình thường?

Trước đây, hầu như mọi người Huế là có tôn giáo, phần đông là Phật tử, vì thế chuyện ăn chay là phổ biến, có người thì trường trai, người thì thập trai, tứ trai,… phổ biến là nhị trai (ngày rằm, mồng một). Trong hai ngày nhị trai đó, Huế khác hẳn ngày thường: nhà nhà lau chùi bàn thờ, chuẩn bị hương hoa cúng Phật, cúng ông bà; đa số cửa hàng ăn thì chuyển sang bán đồ chay hoặc tạm nghỉ, các chùa và niệm Phật đường thì trang nghiêm chuông mõ, kinh kệ,… Trầm hương đốt thơm ngát mười phương. Nhưng đó là Huế của một thời bất an vì chiến tranh.

Ngày nay, Huế an bình trong một đất nước an bình, đời sống vật chất và tinh thần có những bước phát triển, khởi sắc, dân cư đông đúc hơn. Tuy thế, vì thành phần dân cư có nhiều thay đổi, có nhiều gốc gác nên có nhiều lựa chọn trong đời sống tinh thần, tâm linh, và vì thế, dầu người theo Phật vẫn đông nhưng sự thể hiện trong xã hội của Phật Giáo không còn đậm nét như trước.

Dẫu hoàn cảnh nào đi nữa thì việc ăn chay truyền thống nói lên một lối ẩm thực lành mạnh và một nét văn hóa đẹp đẽ của đất cố đô, một cách ăn để sống văn minh nhất trong thời đại ngày nay, khi nhân loại thấy nguy cơ sống thô bạo với thiên nhiên, sử dụng kỹ thuật đưa đến ô nhiễm môi trường, gây ra bao nhiêu biến chứng: dịch lở mồm long móng, H5N1, bò điên, kích thích tăng trọng, kích thích cây trồng, nhiểm kháng rầy, dư thừa phân đạm trong rau xanh…

Ngày nay, ăn chay không có nghĩa là ép xác, cực khổ (ăn chay nằm đất!), trái lại, ăn chay vẫn bổ dưỡng, ngon lành mà không cần cầu kỳ; hơn nữa, người nấu có đạo tâm nên đảm bảo tinh khiết – một yêu cầu cao nhất đối với người dùng chay. Những anh chàng dân dã: mít, vả, bắp chuối, măng,… cùng với các cô nàng hạt sen, nấm, mè, đậu, cà,… được vinh danh từ các bữa cơm chay gia đình, các bữa ngọ trai nhà chùa, cho đến các bữa tiệc chay tiếp tân sang trọng.

Thời gian sau này, thức ăn chay (và ăn kiêng) được bổ sung bằng thực phẩm chế biến sẵn, đặc biệt từ Đài Loan, làm thỏa mãn yêu cầu vừa sang trọng vừa tiện dụng, tuy nhiên, theo thiển ý, ăn chay theo lối Huế truyền thống vẫn giàu vị thanh, chất tươi, và “đạt đạo” hơn. Tác giả và đạo diễn tiệc chay truyền thống Huế là ai?

Tôi không chuyên nghiên cứu về vấn đề này, tôi chỉ nhớ (rất thiếu sót) một số vị nữ lưu tài hoa, Huế chay: trước đây là nhà giáo Hoàng Thị Kim Cúc, dạy nữ công gia chánh trường Đồng Khánh, huynh trưởng Gia Đình Phật Tử uy tín; ngày nay là nhà giáo Mai Thị Trà, doanh nhân Hoàng Anh – Phú Xuân…; tất cả đều có công trình biên soạn có giá trị về các món chay.

Cái gì bèo bọt rồi sẽ qua đi, cái gì tinh túy thì ở lại. Huế chay vẫn còn đó, để đi đến đích cao hơn về thân, khẩu, ý: thân thể nhẹ nhàng, lời nói tốt đẹp, trí tuệ minh mẫn.


[1] Khánh Ly, Nỗi buồn nhớ quê hương, bút ký

[2] Nỗi buồn nhớ quê hương, bút ký

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/?vnnid=14704

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Tùy Bút: 'Mẹ ơi!...' (Diệp Sa)


"Mommy," "Mother," "Mama," "Mum"... One of the most touchingly beautiful words in the world. 

'Mẹ ơi!...'
Diệp Sa 

Mẹ ơi! Sao con chẳng bao giờ nghe mẹ than thở, dù con biết, những ngày lễ là những ngày mẹ bận nhất. Con chẳng bao giờ tặng mẹ được một bông hoa vào ngày sinh nhật, ngày Quốc tế Phụ nữ… 

Bỗng dưng con thèm được gọi một tiếng “Mẹ ơi!” như thế. Bởi con biết, nếu con cất tiếng, mẹ sẽ luôn đáp lại và mỉm cười. Con cảm thấy yên lòng hơn khi nghe tiếng mẹ.

Bỗng dưng con thèm được mẹ chải tóc cho. Con nhớ, ngày con còn nhỏ, dù nhà đông anh em nhưng mẹ luôn dành thời gian chải tóc cho con và chị trước khi đến lớp. Con và chị trở nên đáng yêu hơn khi được mẹ chăm sóc như thế.

Bỗng dưng con thèm được mẹ chở bằng xe đạp. Con nhớ, ngày xưa, khi bố mẹ đi làm, anh chị đi học, mẹ phải gửi con ở nhà bà ngoại. Cứ tối tối, mẹ lại đón con bằng xe đạp. Con thích nghe mẹ nhắc “ngồi yên đi con”, con thích bi bô với mẹ đủ thứ chuyện ngày hôm đó, thích gọi cái hồ bé tẹo ở nhà bà ngoại là Hồ Gươm. Ngồi sau xe mẹ, con thấy mọi thứ cứ lướt đi thật nhanh, thật nhanh…

Bỗng dưng con thèm được ngủ với mẹ. Con nhớ, lần con bị viêm phổi, dù đã học lớp 7 nhưng vẫn được ngủ với bố mẹ. Những hôm đó thật là thích vì được vùi đầu vào lòng mẹ, được gác chân lên người bố. Con nghĩ là con chẳng cần chăn nữa đâu vì như thế đã quá đủ ấm áp rồi!

Bỗng dưng con thèm được ăn một bữa cơm do chính tay mẹ nấu. Con thích lắm cái cảm giác đi học về là sà ngay vào mâm cơm, nhiều khi chẳng kịp rửa tay và bị mẹ mắng cho một trận. Sau này, khi con lớn lên một tí, bố mẹ đi làm cả ngày, mâm cơm chỉ có mấy chị em. Con ước gì mẹ được nghỉ một ngày, chỉ để ở nhà chơi với chúng con và nấu cho mấy chị em một bữa thịnh soạn.

Bỗng dưng con thèm được mẹ dắt đi chợ, được mẹ mua cho những bộ quần áo mới. Cái cảm giác hạnh phúc ấy sẽ chẳng bao giờ con quên, dù bây giờ con có nhiều bộ quần áo đẹp hơn những bộ quần áo xanh xanh, đỏ đỏ của mẹ, mẹ ạ!

Bỗng dưng con thèm nghe tiếng gọi của mẹ mỗi lần con trốn ngủ trưa đi với lũ trẻ con trong xóm. Sau mỗi lần ham chơi như thế, con sợ run người, không phải là sợ mẹ mắng mà sợ mẹ im lặng, con sợ mẹ buồn. Tiếng gọi ấy sau này cứ mãi ám ảnh con.

Bỗng dưng con thèm được ngồi với mẹ trong bếp vào những ngày trời mưa bão. Con nhớ quay quắt bếp lửa và những cái bánh nóng hổi mà mẹ dành cho mấy chị em. Con mong trời cứ mưa bão như thế mãi. Con thật ngốc, mẹ nhỉ! Nhưng ở cạnh mẹ, con thấy thật an toàn và bình yên!

Bỗng dưng con thèm được dụi đầu vào lòng mẹ để khóc nức nở và mách với mẹ rằng mấy anh chị ở nhà đã ăn hiếp con như thế nào. Lúc đó, mẹ sẽ ôm con vào lòng, xoa đầu và mắng cho anh chị một trận tơi bời. Con thích được mẹ dỗ dành như thế.

Bỗng dưng con thèm được cười toe toét, khoe với mẹ những điểm 10 tươi rói. Con biết, những lúc đó, ánh mắt mẹ đầy vẻ tự hào.

Con nhớ những cảm giác đó. Quay quắt! Nhưng con sẽ không ước được nhỏ lại. Bởi con sợ vai mẹ sẽ oằn hơn, mắt mẹ sẽ mờ hơn vì những quầng thâm của những đêm mất ngủ do suy nghĩ.

Mấy chị em con đều đi học xa, chỉ có bé út ở nhà với bố mẹ. Mỗi lần về nhà, con lại thấy mẹ khác đi một ít. Con thấy tóc mẹ đã có vài sợi bạc, mỗi lần mẹ gội đầu, nó lại rụng nhiều hơn. Tay mẹ vốn dĩ đã to nay lại càng to hơn, cứng hơn vì làm việc nhiều. Ai cũng nói bàn tay con nhỏ và mềm, con chỉ biết điều đó là đúng khi để tay con ở trong bàn tay mẹ. Những nếp nhăn trên mặt mẹ không được che bằng lớp phấn trang điểm càng nổi lên rõ hơn. Con sợ khi nhận ra rằng, mẹ ngày một già đi…

Mẹ ơi! Sao con chẳng bao giờ nghe mẹ than thở, dù con biết, mẹ phải chịu nhiều vất vả, phải làm việc mà không có cả ngày chủ nhật.

Mẹ ơi! Sao con chẳng bao giờ nghe mẹ than thở, dù con biết, có khi cả năm mẹ chẳng sắm sửa gì cho riêng mình. Thế mà đã có lần, con đã giận mẹ mất một ngày vì con không có quần áo mới để mặc Tết.

Mẹ ơi! Sao con chẳng bao giờ nghe mẹ than thở, dù con biết, mẹ chẳng bao giờ được đến thẩm mỹ viện như mẹ của bạn con. Tối tối, mẹ nhờ bé út bôi thuốc. Tay mẹ bị nấm nhưng công việc đầu bếp của mẹ không phải lúc nào cũng đeo được găng tay.

Mẹ ơi! Sao con chẳng bao giờ nghe mẹ than thở, dù con biết, những ngày lễ là những ngày mẹ bận nhất. Con chẳng bao giờ tặng mẹ được một bông hoa vào ngày sinh nhật, ngày Quốc tế Phụ nữ… Lúc nhỏ thì quá vô tâm, lớn lên thì lại ở quá xa mẹ. Chỉ có những cuộc điện thoại… Con thấy mình có lỗi với mẹ biết bao!

Mẹ ơi! Mẹ có biết là con sợ hãi như thế nào khi nghe tin mẹ bị tai nạn không? Con sợ những ý nghĩ mông lung, vớ vẩn trong đầu con sẽ thành sự thật. Con sợ sẽ không còn kịp để thực hiện những dự định của mình. Con sợ là sẽ không còn nhìn thấy mẹ nữa.

Mẹ nằm đó, gầy và xanh. Con khóc nhưng cũng phải cảm ơn ông trời vì con vẫn nhìn thấy mẹ. Bàn tay mẹ vốn đã gầy nay lại càng gầy hơn, cứng hơn, lớp da cũ do lâu ngày không làm việc bị bong ra. Con ngồi gỡ những mảnh da mà nước mắt mặn chát. Con ước gì mình có thể chịu đau thay cho mẹ.

Mẹ ơi! Con chỉ muốn học thật nhanh, đi làm để đỡ đần phần nào cho mẹ. Con hay nói đùa với mẹ rằng không biết đến bao giờ thì mới trả xong nợ cho mẹ. Nhưng bây giờ thì con biết, con biết là con sẽ không bao giờ làm được điều đó, bởi người ta chẳng bao giờ trả xong nợ với cha mẹ mình.

Mẹ ơi! Mẹ có biết là con vui như thế nào khi thấy mẹ khỏe lên từng ngày không? Con chỉ mong mẹ thật khỏe. Con chẳng mong được giàu có, sung sướng, có nhà này, xe nọ, con chỉ cần có mẹ…

Con thích được gọi “Mẹ ơi!”, bởi con biết, nếu con cất tiếng, mẹ sẽ đáp lại và mỉm cười…

http://www.eva.vn/tin-tuc/39me-oi39-c73a4423.html

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011

Tùy Bút: Hãy luôn yêu thương mẹ (Nguyễn Thị Mận)

Ảnh minh họa
A woman shared how she won the heart of her mother-in-law and suggested that women who are married or will be married to love their spouses' mothers as their own. 

Hãy luôn yêu thương mẹ
Nguyễn Thị Mận

Vợ chồng tôi quen nhau khi cùng đi lập nghiệp ở nơi xa, chính vì vậy, ngày cưới tôi mới có cơ hội được gặp mẹ chồng. Mẹ không phải là người khó tính như tôi vẫn thường nghe nói nhưng vì chỉ ở nhà được một tuần, sau đó vào làm việc nên tôi không hiểu mẹ lắm. Có dịp mẹ vào thăm chúng tôi, đây cũng là dịp tôi làm bổn phận con dâu nhưng mọi chuyện không như tôi muốn...


Mẹ dễ tính trong ăn uống, cũng không yêu cầu tôi phải này kia. Mẹ nấu cơm khi tôi về trễ, đón cháu khi tôi bận. Mẹ thật tuyệt vời, tối hai mẹ con tôi thường nằm tâm sự với nhau, nếu như...

Chuyện là tôi không nhớ mình đã để dây chuyền 3 chỉ vàng ở đâu, chỉ biết là tôi tìm cả ngày hôm đó mà không thấy nhưng tôi cũng chẳng nói cho ai biết.

Tối đó nằm ôm mẹ, tôi nói: “Mẹ ơi, con không nhớ là để sợi dây chuyền ở đâu mà tìm sáng giờ không thấy? Tính hay quên của con dạo này ngày càng nặng”. Mẹ không nói gì nhưng hôm sau nằng nặc đòi về nhà anh chị ở thành phố, tôi cũng không nghĩ là mẹ giận chuyện “tôi có ý nghi ngờ mẹ”.

Tôi thực sự không có ý đó, chỉ là cái tật hay quên, tôi cũng tìm ra thủ phạm là đống rác góc nhà, tôi vô tình để rơi xuống. Anh chồng tôi gọi điện xuống nói mẹ giận tôi lắm, ai cũng trách tôi, chồng tôi cũng thế, mẹ nói không bao giờ vào nhà tôi nữa. Tôi không biết giải thích sao cho mẹ hiểu.

Tôi nghe chị cùng cơ quan nói các cụ tuy lớn tuổi nhưng tự trọng cao lắm, tôi nói với mẹ như thế bị mẹ hiểu sai ý là chính xác, bây giờ tốt nhất là tôi nên im lặng. Nhưng tôi không muốn im lặng, tôi vẫn gọi điện về hỏi thăm mẹ, ban đầu mẹ lấy lý do mệt hay đang ngủ nên không nghe máy, dần dà mẹ cũng nghe.

Tôi nghe cô em dâu út nói mẹ bệnh đau nhức vào mùa đông nên cố gắng đi tìm thuốc hay, nhờ người quen đi nước ngoài mua giúp thuốc tốt, bệnh của mẹ cũng đỡ dần.

Các em tôi ngoài Bắc cũng đi làm suốt nên mẹ thường ở nhà một mình, lúc rảnh là tôi gọi về nhà nói chuyện vui với mẹ, nghe mẹ kể chuyện ngày xưa, cũng có khi nói về chiếc khăn mẹ thích. Mẹ nhờ tôi mua nó nếu tôi nhìn thấy.

Rồi bất ngờ khi mẹ nói mẹ sẽ vào thăm gia đình tôi, mẹ nói mẹ nhớ con cháu mẹ vào... Tôi biết mẹ đã hết giận. Tôi cùng mẹ lên chùa, cùng nấu món ăn dân dã ngoài Bắc, cùng ăn chay, xem chương trình cải lương mẹ thích. Tôi biết mẹ thích nghe "Câu hò bên bến Hiền Lương" - món quà mà bố tặng mẹ lúc mới yêu - hai mẹ con cùng đi xem ca nhạc. Mẹ nói lúc bố còn sống, bố hay hát cho mẹ nghe lắm.

Tết này, chúng tôi về quê thăm mẹ, mẹ vui lắm, lâu rồi cả nhà mới có dịp đông đủ. Tôi thương và yêu quý mẹ như chính người mẹ đã mất của tôi. Tôi không còn nghĩ mẹ là mẹ chồng nữa. Ai đó đã lấy chồng, sắp lấy chồng, đừng bao giờ quan niệm “mẹ chồng-mẹ đẻ” mà hãy luôn kính trọng và yêu thương hai mẹ, sẽ không còn khoảng cách “mẹ chồng-nàng dâu”.

http://nld.com.vn/20110217101113945p0c1030/hay-luon-yeu-thuong-me.htm

Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2011

Tùy Bút: Ngày Tết Nói Chuyện Ăn Chay (Diệu Liên Lý Thu Linh)

Bì chay & chả chay - Vegan food (Photo: VietNamAnChay.com)
Ms. Diệu Liên Lý Thu Linh wrote candidly about her experience as a long-time carnivore and recent vegetarian. When Diệu Liên's sister passed away, a Buddhist monk advised the mourning family to stay vegetarian for 49 days to help the departed soul. Due to her love for her sister, Diệu Liên was able to accomplish this with ease. Another pivotal event happened when a sparrow who used to frequent her yard was found dead, killed by a predator. The next time Diệu Liên was served a chicken dish, she finally made a connection between how she was also doing the same thing to the chicken by taking its life. With some initial struggles, she eventually adopted the vegetarian diet as a lifelong way of being. Now she sincerely wishes that everyone can find a reason to be veg.

Sau một thời gian ăn chay, có lẽ các bạn ăn chay đều khám phá ra rằng thế giới ẩm thực chay quả thật có nhiều món ngon, hương vị phong phú, lại còn thêm ưu điểm là thanh tịnh. Ngoài ra, những bạn thú chúng ta nuôi trong gia đình, như chó, mèo, cũng đều có thể ăn chay được cả. Khác với loài vật ngoài hoang dã, đôi khi phải ăn thịt để sống còn, loài người chúng ta may mắn hơn vì có sự lựa chọn.

Kính mời bạn đọc bài viết của chị Diệu Liên Lý Thu Linh.

NGÀY TẾT NÓI CHUYỆN ĂN CHAY
Diệu Liên Lý Thu Linh

Nếu chừng hai, ba năm trước, có ai đoán rằng tôi sẽ ăn chay trường, tôi sẽ cho là người đó quá hoang tưởng. Đúng vậy cứ nhìn lại ‘quá trình’ ăn chay của mình mà tôi tự xấu hổ.

Ngày còn nhỏ, dĩ nhiên chúng tôi chưa biết ăn chay là gì. Chỉ thấy cứ vài ngày trong tháng là Má tôi lại ngồi ăn riêng.  Má không ăn đồ ăn ‘bình thường’ của chúng tôi, mà Má có chén chao, và rau luộc. Thỉnh thoảng Má cũng làm tàu hủ chiên, tàu hủ ướp xả, tàu hủ kho, vân vân. Chúng tôi cũng tò mò xin Má thử. Mấy miếng tàu hủ nát nhừ trong miệng, không có vị ngọt nào đọng lại trên đầu lưỡi như khi tôi nhấm nháp cá, hay thịt. Thiệt nhạt nhẻo. Chúng tôi không hiểu sao Má lại ‘tự làm khổ’ mình như thế.  Khi chúng tôi hỏi lý do, Má chỉ bảo đó là những ngày rằm, ngày mùng một trong tháng thì phải ăn chay, mà không giải thích tại sao những ngày đó lại phải ăn chay. Má tôi hẳn cũng thấy chúng tôi không hào hứng gì với mấy món đồ chay ‘nhạt thếch’ của Má, nên cũng không ép đứa nào ăn chay, trừ một ngoại lệ.

Ngoại lệ đó là tất cả chúng tôi phải ăn chay chỉ một ngày trong năm đó là ngày mùng một Tết.  Chỉ có một ngày, mà mấy anh chị em chúng tôi cảm thấy như một cực hình.  Buổi sáng mùng một Tết thay vì ổ bánh mì thịt như thường lệ thì Má tôi đã thay thế bằng bánh tét, xôi hay mì xào chay.  Cũng tiếng là đã ăn no, mà sao tôi cứ thấy bụng mình lưng lửng, ăn nữa thì không nổi nhưng hình như cơn ‘đói khát’ vẫn chưa được thõa mản.  May mà sáng mùng một còn có một số trò giải trí như đi xem múa lân, đi mừng tuổi vân vân, đã giúp chúng tôi khỏa lấp phần nào nỗi ‘nhớ nhung’ những miếng thịt mỡ béo ngậy đang nằm phơi mình, trong nồi thịt kho nước dừa thơm lừng của Má.  


Ngày mùng một dài không tưởng được đối với những đứa trẻ lên chín, lên mười như chúng tôi.  Sau buổi cơm trưa ‘khổ hạnh’ không thịt, không cá là chúng tôi bắt đầu nhìn đồng hồ, đếm giờ, khi cây kim đồng hồ hơi ngã khỏi con số hai, là chúng tôi thở phào nhẹ nhỏm, vì không biết luật lệ là do ai đặt mà chúng tôi cho rằng sau giờ đó là Phật đã ngủ, chúng tôi có quyền ăn mặn trở lại, coi như đã trả xong ‘nợ ăn chay’ với Phật một ngày trong năm.  Coi như sau đó là thoải mái ăn mặn mà không phải áy náy gì hết.  Sau giờ ‘giới nghiêm’ là chúng tôi, đứa thì ùa ra hàng hột vịt lộn, đứa xách tô đi mua mì, đứa đi nhúng bánh tráng cuốn liến mấy miếng thịt kho Má để sẵn. Khó ai tưởng nổi là chúng tôi chỉ mới nhịn thịt, nhịn cá chỉ trong mấy tiếng đồng hồ. Như thể chúng tôi khát thịt, khát cả từ hằng bao thế kỷ. Tóm lại, tiếng là ăn chay một ngày mùng một mà thật ra chỉ có hơn nữa ngày tí xíu. Vậy mà cũng có người trong anh chị em chúng tôi không thể thắng nổi mình trong mấy tiếng đồng hồ thử thách đó. Có đứa cũng len lén ‘phạm tội’ trước thời hạn. Năm đó, ngày mùng một chị Ba tôi vừa xắt lạp xưởng chiên cho mấy đứa cháu, vừa khóc –một điều cấm kỵ đối với Má tôi trong mấy ngày Tết - Má lập tức tra hỏi nguyên do, chị tôi sụt sùi bảo: “Con xắt thịt mà quên, lỡ bỏ vô miệng ăn một miếng rồi…”.  Chúng tôi được một bữa cười no bụng.

Trái với Má tôi, còn ăn chay một tháng vài ngày, cha dượng tôi không những không biết ăn chay là gì, mà ông còn có một thú vui tai hại: săn bắn. Những năm mười ba, mười bốn tuổi, tôi đã gần như hằng tuần đều chứng kiến cảnh anh Xê, người anh bà con của tôi khi thì cắt cổ dê, lúc lột da nai, khi bằm thịt rùa…, theo lệnh của cha dượng tôi.  Dĩ nhiên là chúng tôi cũng rất ‘enjoy’ (thưởng thức) đủ các loại thịt đó, mà chưa bao giờ thắc mắc hay trong lòng gợn một chút xót thương nào.  (Không hiểu sao hồi đó tôi ác đến vậy?).  Tôi nghe vợ anh Xê kể lại là trước khi mất anh Xê đã vật mình, vật mẩy và thở khò khè như người bị bóp cổ.  Thật tội nghiệp cho anh!

Với bề dày ‘tội lỗi’ đó, khi lớn lên, trong đầu tôi chưa bao giờ thoáng một ý nghĩ ăn chay, dù chỉ là một phút, mà còn luôn ‘sưu tầm’ trong các quán ăn, qua sách dạy nấu ăn, qua bạn bè, những món ăn, những phương tiện để thỏa mãn tánh thích ăn ngon miệng của mình. Những lúc tình cờ lên chùa, được mời cơm, từ chối không được thì tôi cũng ăn cầm chừng cho phải phép, để khi vừa ra khỏi cổng chùa là ù té chạy đi tiếp tế thịt cá vào bụng, như thể mấy cái xe đang chạy gần cạn xăng, phải mau mau đổ xăng kẻo cháy máy.

Năm tôi 46 tuổi, chị Tư tôi mất. Lúc quý Thầy đến tụng kinh vãng sinh giùm, thấy anh chị em tôi khóc lóc, một vị thầy có khuyên, “Nếu thương chị, thì tụi con trong bảy thất đầu tiên, ăn chay hồi hướng cho chị ấy thì ích lợi hơn”. Lòng thương chị tiêm cho tôi một sức mạnh đến không ngờ. Con người chưa bao giờ ăn trọn một ngày chay, chưa bao giờ tơ tưởng đến việc ăn chay như tôi đã ‘xuất sắc’ giữ trọn lời nguyền. Mà cũng thật lạ, cái cảm giác sau bốn mươi chín ngày ăn chay, không phải là cảm giác thở phào nhẹ nhỏm như những ngày mùng một của tuổi thơ, mà là một cảm giác man mác, là lạ, dường như có chút tiếc nuối. Tôi đã ngạc nhiên với chính mình, không lẽ tôi tiếc nuối những ngày trường chay đó? Chắc chắn là không có rồi, nhất là đối với tôi. Nhưng có lẽ nhờ đó mà tôi đã gieo được hạt giống ăn chay trong lòng mình. Năm 50 tuổi, tôi có lần ăn chay được khoảng hai năm – tự nhiên muốn ăn, không vì một lý do nào khác - nên cũng rất trầy trật, nghĩa là những lần đi ăn uống chung với bạn bè hay anh chị em trong nhà, có nhiều lúc tôi cũng thấy hơi ‘lạc lỏng’, nên rồi tôi lại ‘ngã mặn’.

Nhà chị Ba tôi có khoảng sân nhỏ, ở đó mỗi sáng chúng tôi thường rãi gạo cho đàn chim sẻ hiền lành đáp xuống ăn. Lâu dần, chúng tôi và đám chim sẻ bỗng như rất gần gũi nhau.  Đàn chim trở nên bạo dạn hơn, có hôm tôi dậy trễ, vội vã ăn sáng mà quên rãi gạo là chúng đi sát đến cửa kính, lượn qua lượn lại như nhắc nhở. Còn hôm nào mà chúng không ăn hết gạo, chúng tôi cũng thắc mắc, không biết chúng có bệnh hay gì không.

Rồi một ngày kia khi ra sân để rãi gạo cho lũ chim, tôi không thấy bóng dáng một con chim nào, mà vương vãi trên sân là những mảnh lông chim, và một cái cánh chim nằm chơ vơ, đầy máu, như vừa bị ai gậm nhấm. Tôi nhìn sực lên bờ tường nhà hàng xóm, hình như có một bóng đen vừa vụt qua. Một chú mèo to tướng, lông đen xù, đang giương đôi mắt sáng quắc nhìn xuống chỗ tôi. Tôi có cảm tưởng như miệng của nó còn đang rỉ máu của chú chim sẻ tội nghiệp. Tôi chợt hiểu ra tất cả. Không cầm lòng được, tôi ngồi phụt xuống, lượm viên sỏi và chọi về hướng đó với tất cả lòng căm giận của mình.

Cuối tuần đó, em gái tôi mời cả nhà đến ăn cơm vì em có làm món chúng tôi khoái khẩu nhất: cánh gà nướng xả.  Vừa bước vào nhà, mùi gà nướng thơm lừng đã khiến tôi thấy đói cả bụng. Mỗi người một đĩa cơm cánh gà nướng. Tôi vội vã đưa cánh gà nướng lên miệng, cắn phụt vào. Mỡ gà chảy xuống cả miệng, tôi đưa khăn lên lau. Bỗng bàn tay của tôi cứng lại, như thể có ai vừa chặn tay tôi lại. Tôi đang làm gì đây? Tôi đang ăn cánh gà nướng!  Trước mắt tôi hình ảnh chú mèo đen đáng ghét bỗng hiện ra. Tại sao tôi lại ghét nó chứ?  Tôi cũng đang làm y chang như nó. Cũng đang gặm cánh gà, cánh chim mà còn lên mặt đạo đức, ghét kẻ làm ác. Bữa ăn vẫn rộn rã tiếng cười, tôi len lén đứng lên, đổ đĩa cơm với cánh gà nướng vào thùng rác, rồi bước ra sân.

Từ đó tôi bắt đầu ăn chay, lần này với một mục đích – để không làm khổ chúng sanh khác, hay thực tế hơn, để không giống như con mèo hung ác. Dĩ nhiên lần này cũng như bao lần khác, tôi vẫn hằng cầu nguyện chư Thiên giúp cho tôi thêm cứng rắn. Giúp cho tôi thoát khỏi thói quen từ bao đời, giúp cho tôi không bị những ‘mùi hương’ cũ quyến rũ. Vì thế, mỗi khi có ai khen tôi ăn chay trường giỏi, tôi chỉ biết lúng búng nói: “Tôi làm được ngày nào hay ngày ấy”. Và đó không phải vì tôi khiêm nhường, mà đó là sự thật. Mỗi ngày bây giờ là ngày mùng một Tết đối với tôi. Là ngày chay của tôi. Nhưng không bao giờ tôi còn nhìn đồng hồ để chờ giờ 'Phật ngủ' như lúc còn thơ ấu nữa.

Mong rằng bạn, mong rằng tất cả chúng ta đều có một lý do nào đó để ăn chay. Mong lắm thay!


http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-112_4-9418_5-50_6-1_17-4_14-1_15-1/

Thứ Ba, 1 tháng 2, 2011

Tùy Bút: Nhớ Tết Việt (Dương Ngọc Bình)

A Vietnamese expatriate touchingly remembers the warm traditions of the Lunar New Year in her homeland: the whole family staying up late on New Year’s Eve, making offerings to the Buddhas, eating vegetarian food, children wishing their parents the best for the coming year, and getting lucky money in red envelopes.

Nhớ Tết Việt
(Dương Ngọc Bình, Mỹ)

Tôi còn nhớ cách đây vài năm, khi mới đặt chân sang Mỹ, tôi đã rất hân hoan chờ đón cái Tết đầu tiên của mình trên vùng đất mới.

Hồi ấy, tôi vừa được tuyển vào làm việc ở một cửa tiệm bán hàng hóa Trung Quốc ở khu Chinatown thuộc thành phố Los Angeles. Những ngày gần Tết âm lịch, nhìn cảnh những người Hoa lẫn người Việt đến cửa tiệm mua sắm đồ Tết, tôi cảm thấy rất vui vì như thấy lại cái hình ảnh nhộn nhịp vào những ngày Tết ở quê nhà. Thế rồi, tôi cũng bắt tay vào việc mua sắm cho ngày Tết, nào là mứt dừa, hạt dưa, kẹo, bánh chưng... Tôi cũng hớn hở gửi email chúc Tết cho bạn bè, đồng nghiệp cũ của tôi ở Việt Nam. Hôm mồng một Tết, tôi nấu món chay và rủ ông xã đi cúng chùa. Mọi việc diễn ra cứ như hồi tôi ở Việt Nam. Tôi tự nói với lòng mình rằng tuy xa Việt Nam, nhưng tôi sẽ giữ mãi cái lệ đón Tết Nguyên Đán hàng năm, như là giữ mãi một chút gì của quê hương ở trong lòng vậy.

Thời gian cứ mãi trôi đi. Tôi cố gắng thích nghi và hòa nhập vào xã hội Mỹ. Lúc đầu tôi rất ngạc nhiên với lối sống, cách cư xử, xã giao của người Mỹ. Nhưng rồi, tôi dần dần không cảm thấy lạ lẫm với chuyện đó nữa. Tôi bắt đầu học cách sống như họ. Tôi bắt đầu tìm hiểu các ngày lễ của họ, rồi cũng bắt đầu thấy vui vui khi đến mùa Giáng sinh - mùa sum họp của gia đình ở Mỹ. Rồi thì tôi bắt đầu đếm ngược thời gian vào đêm 31 tháng 12 - đêm giao thừa của người Mỹ. Và sáng sớm hôm sau thì dậy sớm để xem tivi cảnh các đoàn xe trang trí lộng lẫy diễn hành trên một đại lộ lớn ở thành phố Pasadena, bang California. Đây là cái lệ hàng năm của người Mỹ để chào đón năm mới.

Dĩ nhiên, tôi vẫn không quên Tết âm lịch của người châu Á. Vào cái Tết Việt thứ hai, tôi không mua nhiều bánh mứt như lần trước. Chỉ một hộp mứt dừa, một ít hạt dưa, hai cái bánh chưng và một chậu hoa cúc. Tôi thưởng thức ngày mồng một Tết bằng cách cùng ông xã đi chơi ở phim trường Hollywood (Universal Studio) vì tôi sống không xa nơi đó lắm. Và thế là cũng xong một kỳ Tết. Sang cái Tết thứ ba, tôi may mắn được về Việt Nam thăm cha mẹ. Khỏi phải nói đến niềm vui mừng của tôi lẫn những người thân trong gia đình tôi khi gặp lại tôi. Năm đó quả thật tôi có một cái Tết hạnh phúc mỹ mãn vì được sống cạnh cha mẹ, những người người thân yêu nhất của tôi. Tôi đã rất hạnh phúc khi trở về thăm nhà vào dịp Tết âm lịch ở Việt Nam. Điều đó như một giấc mơ vậy.

Nhưng sau khi trở về Mỹ, tôi bắt đầu "tỉnh mộng". Tôi trở lại với lối sống hàng ngày ở Mỹ. Tôi đăng ký vào học ngành kế toán ở một trường cao đẳng. Sự căng thẳng trong việc học cộng với những áp lực từ cuộc sống hàng ngày đã khiến tôi thay đổi. Tôi không có nhiều thời gian để nghĩ đến những người thân trong gia đình ở Việt Nam của tôi, cũng như những hồi ức về Tết Việt như trước đây...

Năm ngoái, khi tôi đang hăm hở chuẩn bị tinh thần để bước vào mùa học Spring đầu tháng hai thì tôi hơi bị ngỡ ngàng vì cái thư chúc Tết của một cô bạn đồng nghiệp cũ. Tôi không cảm thấy nôn nao trong lòng khi đọc những lời chúc Tết của cô bạn tôi. Hình như đó là những lời thừa thãi và lạc điệu với tôi lúc ấy. Vì tôi không hề cảm nhận được cái không khí Tết như trước đây nữa. (Phải chăng vì tôi đã không còn làm ở cái tiệm bán hàng trước đây?). Nhưng dù sao thì tôi cũng nhớ ra là ... sắp đến Tết Nguyên Đán rồi. Khi đi chợ, tôi và chồng tôi cũng xem qua hàng bán bánh chưng. Nhưng chúng tôi đã không mua nó vì giá bán khá đắt. Tôi định mua mứt dừa nhưng chồng tôi đã kịp ngăn tôi lại vì anh ấy bảo rằng tôi mua về nhưng có bao giờ ... ăn đâu. Và những ngày Tết đối với tôi giờ đây là những ngày bình thường, rất bình thường.

Năm nay cũng thế. Tôi email cho vài người bạn tại Mỹ, vài thầy cô người Mỹ và viết trên Facebook lời chúc mừng Giáng sinh cùng với năm mới vào một ngày cuối tháng 12 năm 2010. Tôi lại vui vui đếm ngược từ 10 đến 0 vào đêm 31 tháng 12, rồi sáng mai dậy sớm xem diễn hành trên tivi. Với tôi, vậy là đã bước sang năm mới 2011. Xem tivi đài tiếng Việt, thấy người ta quảng cáo bán chợ Tết ở khu Little Saigon, tôi cũng tò mò bảo chồng tôi chở đi xem. Người Việt đi chợ Tết cũng khá náo nhiệt. Tôi có ý định mua một nhánh hoa đào, nhưng họ bán với giá khá cao, với lại theo như chồng tôi nói, mua về vài hôm thì cũng vứt bỏ, chỉ có phí tiền, nên tôi đành không mua. Đi xem hàng bánh chưng thì bánh năm nay gói nhỏ mà giá thì cao, nên tôi cũng không mua. Không có hoa mai, không có hoa đào, không có bánh mứt thì làm gì có Tết. Vậy đấy, sau gần 5 năm sống tại Mỹ, tôi đã hầu như không còn tổ chức đón cái Tết truyền thống của người Việt nữa. Với tôi bây giờ thì hình như Tết Việt là ở một thế giới khác, một nơi khác, rất xa nơi tôi ở.

Nhưng hôm kia, tình cờ tôi đọc được một bài viết trên VnExpress về nỗi lòng của một cô sinh viên du học tại Mỹ khi Tết đến, tự dưng lòng tôi bỗng phút chốc cảm thấy bồi hồi. Bao ký ức về những ngày xưa khi tôi cùng gia đình tôi ở Việt Nam vui mừng chuẩn bị đón xuân bất chợt hiện về trong tâm trí tôi. Ôi, những ngày tháng cũ, những đêm giao thừa khi cả gia đình thức đến gần 2 giờ sáng để vừa đón giao thừa, vừa cúng trời đất cùng các vị Phật. Rồi sáng mai thức dậy, sau bữa ăn chay sáng, tôi cùng các anh chị em chúc Tết cha mẹ và nhận được những phong bao lì xì đỏ thắm. Ôi, những ngày tháng tươi đẹp ấy nay còn đâu nữa! Nghĩ tới đây, tôi bàng hoàng nhận ra là ngoại trừ chồng tôi ra thì tôi không có một người thân nào bên cạnh cả khi xuân về. Cha mẹ và anh chị em tôi đang ở một nơi xa, xa lắm, cách tôi đến nửa vòng trái đất. Giờ đây, ở nơi ấy, chắc họ đang hân hoan chuẩn bị đón Tết. Ôi ... Một dòng nước mắt bất chợt chảy xuống má tôi, và lòng tôi bỗng dưng nghẹn ngào.

Tôi nhớ Tết Việt!

Thì ra, dù cho tôi có đang ở nơi đâu, dù cho tôi có đang làm gì, dù cho tôi không tổ chức đón mừng, dù cho tôi có cố tình lãng quên, dù cho có bao nhiêu năm trôi qua đi nữa, nhưng ngày Tết cổ truyền ấy cùng với những hồi ức tươi đẹp về nó vẫn sống mãi trong tiềm thức và trong lòng của tôi.

http://vnexpress.net/gl/the-gioi/xuan-que-huong/2011/01/3ba26107/

Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2011

Môi Trường Quanh Ta: Ấm áp Xuân Nam Cực (Lan Anh)

Tàu Clipper Adventure đưa đoàn thám hiểm đến Nam Cực. Ảnh: Lan Anh

The author, Nguyễn Lan Anh, is among the six-member Vietnamese group exploring Antarctica in November 2009, the end of springtime there. After their return, the group sent out letters to world leaders calling upon global cooperation to find solutions to climate changes. This is a touching article about one's deep appreciation for spring - it's a feeling that comes from within.

Ấm áp Xuân Nam Cực
Nguyễn Lan Anh (www.nld.com.vn)

Tác giả bài viết là một trong sáu thành viên của đoàn Việt Nam tham gia chuyến thám hiểm Nam Cực từ ngày 18 đến 30-11-2009. Đoàn đã gửi thông điệp tới các nhà lãnh đạo thế giới kêu gọi hợp tác toàn cầu để tìm giải pháp đối phó với sự biến đổi khí hậu.

Ở Sài Gòn không có sự chuyển động rõ rệt của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Không có cảm giác rét mướt của những ngày đông để sung sướng khi thấy cây nảy lộc, đâm chồi và mưa Xuân bay lất phất.

Sống ở gần hơn với đường xích đạo, người phương Nam đã quen với thời tiết quanh năm nắng ấm, hiếm thấy cây cối đua nhau đổ lá và thi mọc chồi non. Nhưng sự hồi sinh của thiên nhiên là một vòng tuần hoàn tiếp diễn, dù rõ ràng hay lặng lẽ trong sự thờ ơ của con người.

Về lại Sài Gòn sau vài năm sống ở những vùng khác nhau, cứ mỗi Xuân mới, tôi lại nhớ cảm giác lâng lâng của mùa Xuân ở những nơi có bốn mùa rõ rệt. Ở vùng New England của nước Mỹ, nơi tôi đã trải qua hai mùa đông dài tuyết trắng, mùa Xuân đúng là món quà tuyệt diệu nhất mà thiên nhiên trao tặng cho con người.

Những bông hoa tuy-líp đầu tiên ló ra trong khi tuyết còn đang tan như thể một họa sĩ tài hoa đã vẩy chiếc bút màu lên nền tuyết trắng. Ban đêm, đứng bên cửa sổ có thể nghe thấy tiếng chồi non lách tách bật ra khỏi lớp vỏ cứng trên những cành cây trước nhà.

Buổi sáng, đi bộ trên đường phố thấy tất cả những thân cây trơ trụi, khẳng khiu của mùa đông trước đã phủ đầy bông. Tôi bước đi trên phố, hít thở đầy lồng ngực mùi hương của hoa cỏ mùa Xuân và cười một mình. Thiên nhiên có khả năng cho con người cảm giác hưng phấn tự nhiên như thế.

Nếu như phương Nam của Việt Nam quanh năm nắng ấm thì vùng cực Nam của thế giới lại quanh năm giá rét. Trong khi hầu hết thế giới đang bước vào mùa Đông lạnh lẽo thì vùng cực Nam đang là cuối Xuân chuyển qua hè.

Ở Nam Cực, đây là thời gian khí hậu dễ chịu nhất đối với con người. Dễ chịu ở đây có nghĩa là nhiệt độ trung bình khoảng âm 5°C. Thời tiết này rất ấm áp nếu so sánh với mùa đông nơi đây, khi có vài tháng liền không thấy ánh mặt trời và nhiệt độ thường xuyên ở mức âm 50°C.

Ngày đầu tiên khi con tàu Clipper Adventure chở đoàn thám hiểm chúng tôi tiến vào vùng biển Nam Cực, gió thổi tuyết vù vù trên boong tàu, phủ đầy trên mũ, trên áo, chúng tôi được nghe thông báo: “Hôm nay là một ngày rất ấm ở đây”!

Mùa Xuân ở Nam Cực. Mọi nhận thức thông thường về thiên nhiên và quy luật của nó đều thay đổi. Không có màu xanh của cây cỏ. Chỉ có màu xanh biếc lạnh lùng của những tảng băng. Mùa Xuân chỉ được nhớ tới bằng tiếng động rầm rầm của một núi băng đang tan đâu đó, phá vỡ không gian tĩnh lặng trong giây lát.

Những tảng băng trôi nằm vật vờ suốt dọc hành trình hàng giờ mà con tàu đi qua, nhắc nhở rằng Nam Cực đang bước sang mùa Hè. Bởi lẽ, nếu giờ đây là mùa Đông, con tàu khó lòng vượt qua được lớp băng dày để chúng tôi có thể đổ  bộ lên đất liền.

Hình như biểu hiện rõ rệt nhất của mùa Xuân nơi đây là không khí nhộn nhịp của loài chim cánh cụt. Khi thời tiết ấm lên là lúc những loài chim cánh cụt nhỏ hò hẹn và sinh sản. Trong những cộng đồng nhộn nhịp, những con chim cánh cụt hò hẹn, xây tổ trên nền đá cứng, ấp trứng, chờ đợi hàng tháng trời trong giá lạnh đến ngày chim cánh cụt con ra đời. Mỗi con chim cánh cụt chỉ đẻ một quả trứng. Nhìn chúng kiên nhẫn ấp trứng, biết rằng ở đây có sự sống.

Không ở đâu có mùa Hè bất tận và mùa Đông vĩnh viễn. Bốn mùa luôn luôn tuần hoàn, đến rồi đi, dù ồn ào như một bữa tiệc thiên nhiên hay lặng lẽ như mùa Xuân ở Nam Cực. Khi chúng tôi trở về, một câu hỏi chung mà ai cũng đặt ra: Ở đó có lạnh không? Có lạnh, mà cũng không lạnh. Làm sao để có thể giải thích hết trong một câu trả lời ngắn rằng cho dù trong nhiệt độ âm, cho dù ngủ trong tuyết, tôi vẫn không cảm thấy sự lạnh lẽo? Mùa Xuân, cuối cùng thì không chỉ là cảm nhận về thời tiết và sự thay đổi của thiên nhiên xung quanh. Mùa Xuân là cảm giác mình tự tìm thấy. Có lẽ vì vậy mà đối với tôi, chưa có mùa Xuân nào lại ấm áp đến thế, ở một nơi lạnh lẽo đến thế.


http://nld.com.vn/20100128113641287P0C1130/am-ap-xuan-nam-cuc.htm
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...