Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

Vì Sao Ăn Chay: Giải pháp cơm chay (Hoàng)

Gỏi chay - Vietnamese vegan salad (Photo: Đào Ngọc Thạch)
Eating the economical, vegan way is suggested as a solution to the current escalating cost of living.

Giải pháp cơm chay

Người viết: Hoàng
Ngày 1 tháng 4, 2011

(TNTS) Ngôi chùa luôn tượng trưng cho sự thanh thản. Bữa ăn của các nhà tu hành luôn mang dáng vẻ thanh tịnh. Có thể không theo đạo, nhưng khi đã xế chiều, con người ta bỗng dưng muốn bước chân vào cõi Phật, muốn nếm vị cơm chay. Ngày rằm, mồng một, chí ít thì hai ngày một tháng. Còn nhiều hơn, thậm chí ăn chay trường, là sự chọn lựa của không ít người.

Ngày nay đồ chay phong phú và đa dạng, sản phẩm trong nước và cả sản phẩm nhập ngoại. Tiện dụng nhất có lẽ là đồ chay đóng hộp. Khi nhịp sống mỗi ngày một hối hả, thời gian thúc ép, thì đồ ăn chế biến sẵn là thứ vô cùng tiện dụng. Trong các siêu thị, quầy thực phẩm chay đông khách không kém các quầy khác.

Nhưng thời gian đối với bà nhà tôi, một người đã cầm sổ lương hưu, mang một ý nghĩa khác. Ai đó đã nói chí lý: người trẻ thấy ngày ngắn năm dài còn người già ngược lại, ngày thì dài năm thì ngắn! Bởi vậy nên bà nhà tôi thích tự mình chế biến, thích tự mình xào nấu trên ngọn lửa hồng. Nhưng nấu chay là đứng trước hai sự lựa chọn, nôm na là nấu tiệc chay hay cơm chay? Và đây là sự chọn lựa của hai thái cực. Không gì đơn giản hơn một tô canh, một đĩa xào chay. Không gì phức tạp cầu kỳ hơn một lần làm tiệc chay. Mặn có gì thì chay có nấy. Nhưng chay phải giả mặn nên công sức phải gấp đôi, gấp ba. Ngày cha tôi mời cơm mấy thầy, chỉ một món chả lụa, lưng tôi mỏi nhừ vì phải ngồi bóp thau bột mì kỳ cho đến khi chỉ còn “cốt”, để sau đó mẹ tôi chế biến. Tất nhiên những miếng chả lụa ấy cả hình thức cả mùi vị đều gợi nhắc đến miếng chả lụa làm bằng thịt. Bây giờ bước chân ra chợ muốn “gà quay”, “cá nướng”... chi chi cũng có, khỏi nhọc sức tốn công.

Nhưng đã bước chân vào chùa mà còn tơ tưởng Thị Mầu, đã cơm chay mà còn vọng bữa cơm mặn, nghe chừng tâm còn xao động, lòng còn chưa an. Bà nhà tôi thỉnh thoảng vẫn trổ tài nấu một món chay cầu kỳ nào đó. Nhưng thường thường những bữa cơm chay nhà tôi vô cùng đơn giản. Một chén chao. Một nồi bí đỏ nấu đậu phụng. Vài miếng đậu phụ chiên vàng. Một đĩa củ cải luộc... Chao thì béo, đậu phụng thì bùi, củ cải thì ngọt - những bữa cơm chay nối tiếp nhau đem đến một bầu không khí an lành nhẹ nhõm.

Và tôi ngộ ra rằng, những món đơn giản nhất bao giờ cũng giữ được hương vị tự nhiên của thực phẩm nhiều nhất. Còn bà nhà tôi, như nhiều người phụ nữ Việt khác, quyền biến vô biên, gặp thời thế thế thời phải thế, từ lâu đã biết đối phó với hoàn cảnh. Thời buổi cơm cao gạo kém, tiền như giấy, thì những món chay đơn giản không chỉ ngon, bổ mà còn là cách cân bằng ngân sách gia đình.


http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110401/Giai-phap-com-chay.aspx

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Tùy Bút: Đi cũng là về! (Đỗ Hồng Ngọc)

Dr. Đỗ Hồng Ngọc wrote about his good friend songwriter Trịnh Công Sơn, posthumous recipient of the 2004 World Peace Music Award. Mr. Trịnh Công Sơn, who composed hundreds of memorable songs for love and peace, passed away ten years ago on April 1. His music continues to be adored and performed by countless artists, including American musicians who learned Vietnamese to translate and sing his oft philosophical ballads.

Đỗ Hồng Ngọc

Có người hỏi tôi có phải Trịnh Công Sơn là một thiền sư không mà sao cứ thấy tôi nhắc và trích dẫn ca từ của anh trong các bài viết về Thiền, về Phật pháp của tôi?

Với tôi, Trịnh Công Sơn không chỉ là một “Thiền sư” mà anh còn là một vị “Bồ tát”. Dĩ nhiên “Bồ tát” trong cái nhìn của tôi thôi, bởi vì, anh đã mang đến cho tôi- và có thể cho nhiều người khác nữa- biết bao niềm phúc lạc, bình an, cũng như biết bao nỗi xót xa, khắc khoải… tùy theo lứa tuổi của mình như một thứ “vô lượng nghĩa” kinh…


Mãi đến vài năm sau khi anh mất, tôi mới viết được một bài thơ nhỏ về anh: “Kẻ rong chơi”. Phải, theo tôi, anh là một kẻ rong chơi. Một vị “Bồ tát” hẳn nhiên là phải rong chơi trong cõi Ta bà thôi, với cái tâm không phân biệt, không chấp trước. Rong chơi thôi đã là quá đủ. Và không dễ. Bởi khi ta mất đi sự rong chơi, tức khắc ta rơi vào những “điên đảo mộng tưởng”…
Khi có cái tâm Bồ tát, người ta “thị hiện” ở cõi người như một cuộc “du ư ta bà thế giới”, để chia sẻ những niềm vui và cả những nỗi đau để rồi một hôm “ta lắng nghe ta”
thì chợt nhận ra một nỗi niềm “từ bi bất ngờ” ập đến, từ đó biết ra “một cõi đi về” thênh thang!

Khi viết “Gió heo may đã về” tôi nhìn Trịnh Công Sơn khác với khi tôi viết “ Nghĩ từ trái tim”. Ở Gió heo may đã về, Trịnh Công Sơn là của “cát bụi mệt nhoài”, còn ở Nghĩ từ trái tim, Trịnh Công Sơn là của “ta là ai mà còn trần gian thế”? Một câu hỏi như vậy mỗi chúng ta chẳng đã từng khắc khoải tự hỏi với chính mình đó sao?


Câu trả lời có đó rồi: “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt/ rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. Đi cũng là về. Về cũng là đi. Nó không từ đâu đến, cũng chẳng về đâu (Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ). Chính là cái mà Bùi Giáng vẫn thường hay nói “Hà dĩ cố? Chơi thôi mà!”. Đôi vầng nhật nguyệt ấy là “minh”. Một thứ ánh sáng vẫn soi suốt dặm trường. Ta là ai mà còn trần gian thế? Ta là ai mà yêu quá đời này? Sao không qua bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) đi, sao không “thị hiện”… niết bàn đi, mà cứ phải loanh quanh cho đời mỏi mệt?

Tôi quen Trịnh Công Sơn từ cái đêm anh ôm đàn hát một mình dưới mái hiên tôn một tối ở sân trường đại học văn khoa Saigon thưở đó. Một người gìa trong công viên/ một người điên trong thành phố/ một người nằm không hơi thở/ một người ngồi nghe bom nổ… Anh nói tiếng nói của chúng tôi. Tôi nghe mình buốt lạnh: Vết lăn vết lăn trầm… Bài ca dao trên cồn đá; ôi quê nhà một thời… / đại bác đêm đêm dội về thành phố, em bé co ra, từng hạt cơm khô, em bé lỏa lồ, khóc tuổi thơ đi…
Lứa chúng tôi, nói như bạn tôi, Lữ Kiều không chọn lịch sử mà lịch sử chọn mình. Anh biết tôi với tên Đỗ Nghê, những bài thơ gần gũi trên Bách Khoa, Tình Thương… Anh thường gởi tôi những em bé với đôi dòng nguệch ngoặc: Gửi Đỗ Nghê… chăm sóc giùm…

Mỗi lần tôi ghé nhà thăm anh thường kêu to: “Lấy cho cậu Ngọc một ly nước lọc”! Anh biết tôi không rượu, không thuóc lá. Và không ép. Những khi đông vui, ly này ly khác, thuốc lá chuyền tay, anh vẫn gọi người nhà: Lấy cho cậu Ngọc một ly nước lọc!

Khi tôi in tập thơ Giữa hoàng hôn xưa, thì bìa là của Trịnh Công Sơn với một bức vẽ thiệt ngộ dành riêng cho bài “Thư cho bé sơ sinh”… Khi viết Gió heo may đã về, tôi dùng những ca từ của anh để đặt các tiểu tựa, Trịnh Công Sơn bèn “viết thêm” mấy dòng ở lời Bạt. Anh nói: Moi sẽ nói ngược lại ý toi cho vui nhé. Toi nói “có già”, moi sẽ nói không có già nhé! Và rồi, anh viết “Không có già, không có trẻ. Nói với một người trẻ tôi già rồi em ạ là một điểu vô lễ”.


Đỗ Trung Quân nhận ra ngay vụ “cãi vả” này và bảo sao cho đến cùng, bác sĩ nói có, nhạc sĩ bảo không… trong một bài viết trên Tuổi Trẻ: Như sông vào biển.

Năm 1997, nghe Trịnh Công Sơn bệnh nặng, đang nằm ở khoa Săn sóc đặc biệt bệnh viện Chợ Rẫy. Tôi đến thăm. Cả nhà đang bứt rứt lo lắng đi qua đi lại trước cửa phòng, vì không ai được vào. Tôi trong nghề nên được các đồng nghiệp cho vào thăm sau khi đã khoác thêm blouse trắng, đổi giày… đâu đó chỉnh tề. Ôi Trịnh Công Sơn đó ư? Một cái xác ve xẹp lép, nhẹ tênh trên tấm drap trắng với nồng nặc mùi nhà thương và bao bệnh nhân hấp hối xung quanh. Ôi, biết bao ca khúc say đắm thẩn thờ là từ cái xác ve xẹp lép nhẹ tênh này đó sao? Có cái gì đó đã bay lên làm nên một Trịnh Công Sơn từ trong tứ đại ngũ uẩn này đó vậy? Có cái gì đó “mặc khải” chăng? Có cái gì đó “thị hiện” chăng? Đã mượn anh để trình hiện như hoa sen trong đầm lầy, như quỳnh hương thoáng sát na?


Tôi lay nhẹ. Anh mở mắt. Nhìn chầm chậm rồi lóe sáng “Toi mới về đó hả?” Thì ra anh vẫn tỉnh, vẫn nhận ra tôi, còn biết tôi vừa mới về sau chuyến tu nghiệp ngắn ở Paris. Tôi mừng quá. Một cô y tá đến chích thuốc. Tôi hỏi cô có biết ai đây không? Cô lắc đầu. Trịnh Công Sơn đó. Cô hơi ngớ ra. Tôi nói thêm: nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đó. Cô có vẻ kinh ngạc. Hình như cô kêu lên, không ra tiếng: Trịnh Công Sơn đây sao? Trịnh Công Sơn đây sao?


Tôi thăm khám qua và bảo không sao đâu. Gan thôi. Gan anh thòng xuống đến 7cm dưới bờ sườn phải. Thực ra bệnh anh nặng hơn nhiều với nào tiểu đường, nào khớp, nào phổi, nào thận…(Trước đó tôi đã được tham khảo bệnh án). Mấy ngày sau, anh được chuyển lên phòng riêng ở tầng thứ 11. Lần này tôi đến đã thấy anh thảnh mảnh.

Khi anh được về nhà, thỉnh thoảng tôi lại ghé thăm. Lấy cho cậu Ngọc ly nước lọc nè! Anh lại kêu. Anh khoe mấy bức tranh mới, nêu những ý tưởng mới… “Moi quyết định bỏ rượu và bỏ thuốc lá rồi. Mỗi sáng đi bộ được một quãng…”. Anh nói. Tôi cười cười. Lần sau đến, anh nói: Moi quyết định bỏ thuốc lá thôi. Thuốc lá mỗi người một gu, nhưng rượu thì mọi người đều có thể uống chung với nhau được. Bạn đến đông vui không thể không uống chút rượu. Anh giải thích. Tôi vẫn mỉm cười. Anh có lý. “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”? Vấn đề là chất lượng cuộc sống chứ!

Rồi đùng cái tôi bị tai biến mạch máu não phải mổ cấp cứu. Những người bạn đến thăm lần này lại có Trịnh Công Sơn. Anh đi cùng Lữ Quỳnh. Trịnh Công Sơn ôm theo một bó hồng vàng. Lúc nào anh cũng tươm tất như vậy. Tôi khoe anh mấy bức ký họa trên giường bệnh của mình. Cái đầu trọc lóc bình vôi. Anh có vẻ khoái lắm. Hình như anh cũng đang tủm tỉm cười: Đó, thấy chưa? Toi không rượu không thuốc lá!

Rồi một hôm, Lữ Kiều phone báo tôi Trịnh Công Sơn đi rồi.
Đi vào ngày 1.4, ngày của Cá.
Đi, cũng có nghĩa là về vậy./.


http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/di-cung-la-ve/

Cười Cười Cười: Mây lang thang và Xăng leo thang!

Fuel price in Việt Nam has increased from 10% to 15%. Escalating costs of living in any country can cause her citizens stress. And one way to cope? A parody of the Vietnamese version of "A Cowboy's Work Is Never Done" is being circulated on how to deal with the absurdity of gasoline dependency. A little humor goes a long way, and after all, more walking ain't bad for our health and the environment either. Here's to bus number 11!

(Theo RFI) Kể từ tối hôm 29/03/2011, giá nhiên liệu tại Việt Nam đã tăng thêm từ 10% cho xăng đến 15% cho dầu diesel. Quyết định lần này tương đối bất ngờ, vì diễn ra không đầy một tháng sau khi giá xăng dầu đã tăng thêm khoảng 18% ngày 24/02 vừa qua. Trong bối cảnh lạm phát lên cao, việc nhiên liệu tăng giá lại khiến dân chúng lo âu thêm trước tình trạng đời sống đắt đỏ.

Một bản nhạc trẻ nổi tiếng do nhạc sĩ Nam Lộc đặt lời Việt "Mây lang thang" (từ bài "A Cowboy's Work Is Never Done" của Sonny và Cher), lúc trước do ban nhạc CBC trình bày, và giờ đây qua tiếng hát của Khả Tuấn, Bảo Hân, Linda Trang Đài, Như Loan.  Mời bạn bấm vào nghe:



Và với tình hình giá xăng "rong chơi cuối mùa quên lãng" như thế, các tâm hồn "An Nam ta gì cũng cười" đã có bài sau đây được truyền trên mạng, xin được đặt tên là "Xăng leo thang!" Mời bạn cùng hát cho vui vì "có bao nhiêu 80 năm cuộc đời!" Tuy vật giá leo thang như thế, nhưng trong cái rủi biết đâu cũng có cái may, có thể giúp ta trở về lối sống giản dị của tổ tiên, ăn chay, sống xanh, ở lành, gặp hiền.

       Xăng!
       Sao vừa tăng giá mấy hôm lại tăng?
       Đang thời lạm phát khắp nơi đều than.
       Phen này chết đói dân đen cà răng,
       Sao lại chơi ác với dân vậy xăng?

       Xăng!
       Bây giờ ta biết kiếm ăn làm sao?
       Xăng giờ tăng giá mỗi hôm một cao.
       Bao tiền trong ví mỗi hôm một hao,
       Xăng lại chơi ác với dân vậy sao?

       Giờ xe máy vất trong nhà mình chẳng thèm đi,
       Đi bằng xe buýt, xin tiền cô Kiết la hoài, la miết.
       Giờ cưa cái cạc Vi dzà (Visa) mình tính tạm xong,
       Xăng giờ cao giá, lay động Ba Má không cần hoa lá.

       Xăng!
       Hay là ta sẽ đi xe đạp chân,
       Không chừng cơ bắp mấy hôm lại căng.
       Nghe đồn sang tháng giá xăng còn tăng,
       Nhưng mà tăng nữa cũng "thây kệ" xăng!

Tùy Bút: Huế chay (Cao Huy Hóa)

A vegan diet has often been associated with purity, and Huế, the ancient royal capital of Việt Nam, has plenty of that, plus a deep-rooted tradition of veganism.

Tác giả: Cao Huy Hóa

**Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn luôn trung thành với giọng Huế, và chính ca sĩ Khánh Ly xác nhận, trong thời gian chàng thanh niên họ Trịnh ở Đà Lạt: “Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay”.**

Từ ngày đất nước thống nhất, tôi đã đi nhiều miền của đất nước, được thưởng ngoạn nhiều thắng cảnh, sinh hoạt phong phú, được thưởng thức nhiều món ăn… lại còn thích thú nghe được giọng nói của các vùng, các địa phương. Đây cũng là một khám phá nếu mình đi tàu Thống Nhất, dịp con tàu mới nối chiều dài Bắc Nam, những giọng nói khác nhau trên mỗi chặng hành trình, từ khách đi tàu, từ những người buôn bán, từ những tiếng rao hàng.

Giọng nói gắn với con người và được sử dụng tự nhiên như là hơi thở, bình thường ít mấy ai quan tâm, nhưng khi đi xa lâu ngày thì nó trở thành nỗi nhớ nhung chi lạ. Thời còn trẻ, tôi đã xa Huế. Một lần bất chợt nghe radio: “Đây là đài phát thanh Huế…” từ giọng nói của cô xướng ngôn viên giọng Huế, tôi ngẩn ngơ nhớ xứ Huế quê mình, mà thật lạ, bình thường ở Huế thì tôi không để ý, nhưng lần đó nghe giọng nói răng mà trong trẻo, dễ thương, nhẹ nhàng như vậy.

Đi xa, càng xa Huế mà bắt gặp giọng Huế thì như gặp được bạn cố tri. Đến Phú Quốc theo một tour du lịch, trong tâm trạng háo hức thưởng ngoạn hòn đảo tận phía Nam đất nước, được trò chuyện với người địa phương nói giọng miền Nam truyền thống của những người khai phá, chợt lắng lòng bâng khuâng khi anh hướng dẫn viên du lịch, vốn hoạt náo với khách, đến tâm tình với mình về gốc gác Huế bằng giọng Huế như mình.

Hay một lần đến chợ Đà Lạt, đang sử dụng tập tểnh một thứ giọng miền Nam trao đổi với người bán thì được “đáp lễ” bằng một giọng Huế chính hiệu, tôi cảm thấy vừa “quê” vừa vui, nhưng đúng là vui cùng quê vì tôi và người bán hàng cùng tâm đắc quê Huế.

Giọng Huế gắn liền với một kho tàng ngôn từ dân gian Huế được truyền khẩu qua bao thế hệ, như hình với bóng. Giọng Huế là đặc trưng của văn hóa Huế, con người Huế. Đó là nền tảng của loại hình nghệ thuật: hò Huế, ca Huế, ngâm thơ Huế, hát bội Huế. Người nghe biết cảm nhận: Cái gì ra cái đó, không thể giọng nào khác mà ca Nam Ai, Nam Bình, cũng như không thể giọng Bắc mà ca ngọt cải lương…

Ngay trong ca khúc hiện đại, giọng Huế vẫn có nét riêng: nữ ca sĩ Hà Thanh sáng giá một thời nhờ giọng Huế trong trẻo, truyền cảm; nữ ca sĩ Vân Khánh vẫn thu được cảm tình của đông đảo quần chúng khắp mọi miền nhờ giọng Huế ngọt ngào, dễ thương. Về nhạc điệu trong giọng Huế thì tôi không để ý, nhưng nữ ca sĩ Khánh Ly – gốc Bắc – nhận xét: “Con gái Huế nói như hát …”[1]. Đúng là giọng Huế có gì đặc sắc nên nghi thức tán tụng kinh Phật theo giọng Huế có sức cuốn hút người dự trở về tâm thanh tịnh, xa rời phiền não.

Giọng Huế theo người con gái đi về nhà chồng nơi xa, như là của hồi môn văn hóa phi vật thể. Cũng như thế, những người con Huế, đi định cư ở những phương trời xa lạ hàng mấy chục năm, khi trở về sau ngày đất nước thống nhất, sau khi tay bắt mặt mừng, được bà con khen: “Giỏi hí! Răng mi xa Huế lâu mà vẫn nói giọng Huế ngon lành rứa?”.

Giọng Huế là một đặc sản của ngành du lịch Huế. Du khách đến Huế rất thích thú nếu tiếp xúc với nhiều người nói giọng Huế, từ hướng dẫn viên du lịch niềm nở đến cô tiếp tân khách sạn ân cần, cô nghệ nhân ca Huế ngọt ngào đến các chị bán hàng khéo chào mời ở chợ Đông Ba… Cái đọng lại sau chuyến đi thăm Huế thế nào cũng có dư âm giọng Huế.

Việc giữ giọng nói địa phương là một việc tự nhiên, phần lớn từ cha sinh mẹ đẻ, hoặc từ vùng đất mà mình sinh ra, trưởng thành và học tập, làm ăn sinh sống. Việc chuyển đổi giọng nói hoặc luân chuyển sử dụng giọng nói do nhu cầu giao thiệp, sinh sống là một việc bình thường. Nhiều ca sĩ người Huế nổi tiếng toàn quốc, chỉ sử dụng giọng Huế của mình khi về quê hương, còn thì trên sân khấu ca nhạc giao lưu với khán giả mọi miền vẫn ngon lành giọng Bắc.

Nhưng nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn lại khác: luôn luôn trung thành với giọng Huế, và chính ca sĩ Khánh Ly xác nhận, trong thời gian chàng thanh niên họ Trịnh ở Đà Lạt: “Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay”"[2].

“Chay” là gì? Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học năm 2006 ghi những nghĩa như mọi người hiểu của “chay”, “ăn chay”, “cơm chay”, “bánh chưng chay”, “lập đàn làm chay”, “chay tịnh”, và thêm nghĩa: “Không có cái bổ trợ để làm cho tốt hơn”, dẫn chứng “thửa ruộng cấy chay” (không bón phân) – những từ này miền Nam không phổ biến -, “dạy chay” (không có đồ dùng giảng dạy, thí nghiệm minh họa) – hai từ này quen thuộc quá đối với thầy cô giáo, phổ biến toàn quốc từ năm 1975 -; ngoài ra, không có từ “chay” theo ý nghĩa của tiếng hoặc giọng nói.

Thế nào là “Huế chay”? Đó là giọng nói Huế thuần túy, không pha giọng khác, của người sinh ra, lớn lên và sống tại Huế. Xin trích một đoạn văn tôi đọc tình cờ trên mạng của một chàng già đời, lãng tử để gọi là cho vui: “Tui là dân Huế chay, tức là Huế 100%, Huế từ trong ra ngoài, Huế đến nổi ra Bắc vào Nam, lên vùng cao nguyên tắm đủ sông hồ ao lạch mà cũng không gột rửa chất Huế trong người”.

Nhưng vì sao chỉ nghe nói đến Huế chay mà không nghe Hà Nội chay, Sài Gòn chay, Bình Định chay? Người Bắc xác nhận có giọng Hà Nội thuần túy, nhưng không ai gọi Hà Nội chay mà chỉ gọi Hà Nội gốc. Phải chăng từ “chay” trong Huế chay là từ đặc biệt của Huế, phổ biến cách đây không lâu (nhưng chắc chắn là trước thời kỳ mà người ta dùng những từ như: chay, mặn, của chùa theo ý khác, có tính cười cợt, châm biếm?). Từ “chay” này có liên hệ gì với chuyện chay, mặn trong ăn uống? Chắc không ai nghĩ thế, nhưng có thể nào “chay” trong giọng nói và “chay” trong ăn chay có một liên kết? Phải chăng cả hai cùng thể hiện mặt sinh hoạt trong con người Huế bình thường?

Trước đây, hầu như mọi người Huế là có tôn giáo, phần đông là Phật tử, vì thế chuyện ăn chay là phổ biến, có người thì trường trai, người thì thập trai, tứ trai,… phổ biến là nhị trai (ngày rằm, mồng một). Trong hai ngày nhị trai đó, Huế khác hẳn ngày thường: nhà nhà lau chùi bàn thờ, chuẩn bị hương hoa cúng Phật, cúng ông bà; đa số cửa hàng ăn thì chuyển sang bán đồ chay hoặc tạm nghỉ, các chùa và niệm Phật đường thì trang nghiêm chuông mõ, kinh kệ,… Trầm hương đốt thơm ngát mười phương. Nhưng đó là Huế của một thời bất an vì chiến tranh.

Ngày nay, Huế an bình trong một đất nước an bình, đời sống vật chất và tinh thần có những bước phát triển, khởi sắc, dân cư đông đúc hơn. Tuy thế, vì thành phần dân cư có nhiều thay đổi, có nhiều gốc gác nên có nhiều lựa chọn trong đời sống tinh thần, tâm linh, và vì thế, dầu người theo Phật vẫn đông nhưng sự thể hiện trong xã hội của Phật Giáo không còn đậm nét như trước.

Dẫu hoàn cảnh nào đi nữa thì việc ăn chay truyền thống nói lên một lối ẩm thực lành mạnh và một nét văn hóa đẹp đẽ của đất cố đô, một cách ăn để sống văn minh nhất trong thời đại ngày nay, khi nhân loại thấy nguy cơ sống thô bạo với thiên nhiên, sử dụng kỹ thuật đưa đến ô nhiễm môi trường, gây ra bao nhiêu biến chứng: dịch lở mồm long móng, H5N1, bò điên, kích thích tăng trọng, kích thích cây trồng, nhiểm kháng rầy, dư thừa phân đạm trong rau xanh…

Ngày nay, ăn chay không có nghĩa là ép xác, cực khổ (ăn chay nằm đất!), trái lại, ăn chay vẫn bổ dưỡng, ngon lành mà không cần cầu kỳ; hơn nữa, người nấu có đạo tâm nên đảm bảo tinh khiết – một yêu cầu cao nhất đối với người dùng chay. Những anh chàng dân dã: mít, vả, bắp chuối, măng,… cùng với các cô nàng hạt sen, nấm, mè, đậu, cà,… được vinh danh từ các bữa cơm chay gia đình, các bữa ngọ trai nhà chùa, cho đến các bữa tiệc chay tiếp tân sang trọng.

Thời gian sau này, thức ăn chay (và ăn kiêng) được bổ sung bằng thực phẩm chế biến sẵn, đặc biệt từ Đài Loan, làm thỏa mãn yêu cầu vừa sang trọng vừa tiện dụng, tuy nhiên, theo thiển ý, ăn chay theo lối Huế truyền thống vẫn giàu vị thanh, chất tươi, và “đạt đạo” hơn. Tác giả và đạo diễn tiệc chay truyền thống Huế là ai?

Tôi không chuyên nghiên cứu về vấn đề này, tôi chỉ nhớ (rất thiếu sót) một số vị nữ lưu tài hoa, Huế chay: trước đây là nhà giáo Hoàng Thị Kim Cúc, dạy nữ công gia chánh trường Đồng Khánh, huynh trưởng Gia Đình Phật Tử uy tín; ngày nay là nhà giáo Mai Thị Trà, doanh nhân Hoàng Anh – Phú Xuân…; tất cả đều có công trình biên soạn có giá trị về các món chay.

Cái gì bèo bọt rồi sẽ qua đi, cái gì tinh túy thì ở lại. Huế chay vẫn còn đó, để đi đến đích cao hơn về thân, khẩu, ý: thân thể nhẹ nhàng, lời nói tốt đẹp, trí tuệ minh mẫn.


[1] Khánh Ly, Nỗi buồn nhớ quê hương, bút ký

[2] Nỗi buồn nhớ quê hương, bút ký

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/?vnnid=14704

Biến Đổi Khí Hậu: Việt Nam thời tiết diễn biến bất thường

2011 thus far has been the record cold year in northern Việt Nam and bizarre changes in climate are manifesting more evidently with each passing day. In southern Việt Nam, the Mekong Delta is approximating some of its worst droughts in the past. It is said that climate change leads to both hot and cold extremes. Time to try the low-emissions vegan diet and do your part in history.

Nguồn: P. Thanh / Dân Trí
Ngày 31 tháng 3, 2011

(Dân trí) - Năm 2011 được chuyên gia khí tượng khẳng định là năm lạnh kỷ lục. Diễn biến bất thường về thời tiết đang thể hiện ngày càng rõ rệt.

Ông Lê Thanh Hải, Phó giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn TƯ nhận định: Từ đầu năm 2011 đến hết tháng 3, miền Bắc đã trải qua những kỷ lục về lạnh. Theo thống kê của ông Hải, từ  năm 1971 đến nay, nhiệt độ trung bình ngày cuối tháng  tại Hà Nội chưa bao giờ xuống dưới 13 độ C, nhưng ngày 29/3 nhiệt độ ở Hà Nội giảm chỉ còn 12 độ, vùng núi có nơi chỉ còn 7 độ.

Thống kê cũng cho thấy, từ đầu vụ đông xuân đến cuối tháng 3, miền Bắc hứng chịu trên 20 đợt không khí lạnh tăng cường, trong đó có bốn đợt rét đậm, rét hại. Ðáng chú ý là đầu tháng 1-2011, không khí lạnh tăng cường liên tục tạo ra đợt rét đậm, rét hại kéo dài đến 31 ngày.  “Nếu năm 2008, đợt lạnh kỷ lục diễn ra (38 ngày) chủ yếu là rét đậm thì đợt lạnh đầu tháng 1/2011 thiên về rét hại, là điều rất bất thường” - ông Hải nói.

Ông Bùi Minh Tăng, Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn TƯ cũng khẳng định, tính bất thường và cực đoan hơn của diễn biến thời tiết  đang diễn ra ở miền Bắc cùng với tình trạng hạn hán, thiếu nước cho vụ Đông Xuân  diễn ra ở Bắc bộ, Tây Nguyên là hiện thực chứng minh sự thay đổi của thiên nhiên. “Riêng khu vực Nam bộ, dòng chảy sông Mê Kông giảm mạnh, tương đương với một số mùa cạn nhất trước đây”- ông Tăng cho biết.

Theo lý giải của ông Hải, năm nay diễn ra động của hiện tượng La Nina. Xu thế của hiện tượng này làm thời tiết lạnh hơn, mưa trái mùa nhiều hơn. Cùng đó, sự tác động của biến đổi khí hậu làm cho quy luật khí hậu giãn ra ở cả hai phía khiến thời tiết trở nên cực đoan hơn, nóng và lạnh đều vượt ngưỡng bình thường.

Các chuyên gia khí tượng cùng đưa ra nhận định, mùa mưa bão năm nay số lượng bão và áp thấp nhiệt đới năm 2011 sẽ tương đương với mức trung bình nhiều năm (TBNN), tuy nhiên, nền nhiệt độ toàn mùa sẽ thấp hơn và lượng mưa sẽ cao hơn TBNN. Đỉnh lũ trên các con sông vì vậy có thể cao hơn mức TBNN. Có thể thấy rõ, mùa mưa bão năm 2011, tình hình thời tiết, thủy văn trên phạm vi cả nước sẽ có diễn biến phức tạp, tiếp nối tính bất thường trong năm 2010.


http://dantri.com.vn/c20/s20-469044/nam-nay-thoi-tiet-dien-bien-bat-thuong.htm
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...